ĐỀ TÀI "NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG PHỤC VỤ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT"

Đăng lúc: Thứ tư - 15/10/2014 22:31 - Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Kim Ngân
1. Tên nhiệm vụ: Đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất"
2. Tổ chức chủ trì nhiệm vụ: Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai
3. Họ và tên chủ nhiệm đề tài: ThS. Đào Đức Mẫn
4. Nhóm tham gia đề tài:
- ThS. Trịnh Quang Hân
- ThS. Đinh Ngọc Hà
- ThS. Nguyễn Vĩnh Khang
- CN. Nguyễn Mạnh Phong
- CN. Nguyễn Thị Thủy
- KS. Phùng Quang Hiệp
5. Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất.
6. Kết quả thực hiện (tóm tắt)
6.1. Tứ Kỳ là một huyện thuần nông thuộc Đồng bằng Sông Hồng, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, đất đai tương đối phì nhiêu. Vị trí địa lý nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc của đất nước, nằm gần các trung tâm lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định,.... Nông dân cần cù lao động và có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Đó là những điều kiện rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.
6.2. Với tổng diện tích tự nhiên là 17.191,01 ha, trong đó đất nông nghiệp là 11.212,06 ha chiếm 65,88%, bình quân 658 m2 đất nông nghiệp trên đầu người. Diện tích đất trồng cây hàng năm là 8497,79 ha chiếm 49,90% đất sản xuất nông nghiệp. Trên địa bàn huyện có 6 mô hình sử dụng đất ứng với 18 kiểu sử dụng đất, phân bố ở 2 vùng sinh thái khác nhau. Vùng 1 có địa hình cao, vàn cao ở phía Bắc huyện, vùng 2 có địa hình thấp hơn ở phía Nam của huyện.
6.3. Trên cơ sở đánh giá về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình sử dụng đất chúng tôi đề xuất 03 mô hình sử dụng bền vững với những nhận xét sau:
- Mô hình sử dụng đất chuyên lúa hiện nay là 7.210,82ha, chiếm 73,35% trong tổng diện tích đất trồng trọt của huyện Tứ Kỳ, hiệu quả kinh tế trên mô hình sử dụng này thấp nhất so với các mô hình sử dụng đất khác.Tuy nhiên, đây là mô hình chiếm diện tích lớn, phù hợp với năng lực sản xuất của phổ biến các hộ nông dân. Mô hình này xuất hiện ở cả hai vùng đất trên các chân ruộng vàn, vàn thấp và trũng. CPTG/ha ở vùng 1, cao hơn ở vùng 2 nhưng GTSX/ha, GTGT/ha và GTGT/LĐ lớn hơn ở vùng 2 tương ứng là 1,26 lần, 1,26 lần và 1,24 lần do điều kiện về địa hình đất đai ở vùng 1 không có đất trồng 1 vụ lúa. Lượng phân bón thấp, mất cân đối giữa các loại phân, trung bình phân chuồng được bón từ 10 -12tấn/ha/năm, phân đạm trung bình bón 160 - 240kg/ha/năm, lân trung bình từ 90 -120/ha/năm, kali trung bình bón 80 - 110kg/ha/năm, Thuốc BVTV sử dụng 7lần/ha/năm (tương ứng 6kg/năm). Đất chua đến ít chua. Hàm lượng cacbon, đạm, lân, kali tổng số trung bình, ít có sự biến động giữa các điểm quan trắc. Lân, kali, canxi, magie trao đổi từ trung bình tới nghèo, CEC, độ bão hòa bazơ thấp. Hàm lượng Cu, Pb, Zn, Cd tổng số đều chưa vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với đất sản xuất nông nghiệp, không có mối quan hệ giữa các kim loại nặng trong đất.
- Mô hình sử dụng lúa - màu hiện tại có 2.034,74ha, chiếm 20,69% diện tích trồng trọt của huyện Tứ Kỳ. Mô hình sử dụng này cho hiệu quả kinh tế cao và ổn định, phù hợp với hầu hết nông dân và điều kiện đất đai của huyện, mô hình này cũng thu hút được nhiều lao động và có tính ổn định hơn. Các chỉ tiêu GTSX/ha, GTGT/ha và GTGT/LĐ ở vùng 1 luôn luôn cao hơn ở vùng 2 tương ứng là 1,33 lần, 1,48 lần và 1,68 lần do ở vùng 1 có trồng nhiều cây vụ đông có giá trị kinh tế và giá trị hàng hoá cao như dưa, đậu tương, bắp cải. Mức đầu tư phân bón cho các loại cây trồng trong mô hình sử dụng lúa-màu thấp, có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm cây trồng, mùa vụ, không cân đối về lượng và loại. Lượng phân chuồng trung bình bón 16 -23tấn/ha/năm, đạm trung bình bón 250 - 330kg/ha/năm, lân bón 130 -160kg/ha/năm, kali bón 90 -150kg/ha/năm, thuốc BVTV thường được sử dụng 7- 10lần/năm (tương ứng 6,0 - 8,6kg/ha). Một số đặc tính hóa học cơ bản của đất thay đổi có chiều hướng tích cực so với mô hình sử dụng đất chuyên lúa. Tuy nhiên, hàm lượng cacbon và đạm tổng số thấp hơn so với đất chuyên lúa, lân và kali tổng số ở mức trung bình. Lân, kali, canxi, magie trao đổi, CEC và độ bão hòa bazơ ở mức trung bình đến cao, có xu hướng cao hơn so với đất chuyên lúa. Các kim loại nặng Cu, Pb, Zn, Cd tổng số đều chưa vượt ngưỡng tối đa cho phép đối với đất sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn Việt Nam năm 2002, không có sự quan hệ giữa các kim loại nặng trong đất, tuy vậy có nhiều mẫu hàm lượng Pb tổng số cao, trung bình 48,11ppm.
- Mô hình sử dụng đất chuyên màu hiện tại có diện tích là 207,68ha (chiếm 2,11% tổng diện tích trồng trọt của toàn huyện. Đây là mô hình sử dụng đất đang cho hiệu quả kinh tế cao nhất và chỉ được trồng ở vùng có điều kiện địa hình cao GTGT/ha của mô hình này là (61.969,38 ngàn đồng) cao gấp 6,2 lần so với mô hình chuyên lúa (9.997,37 ngàn đồng) và gấp 2,3 lần so với mô hình lúa màu (26.691,82 ngàn đồng). GTGT/LĐ của mô hình chuyên rau màu là 71,08 ngàn đồng cao gấp 3,9 lần so với mô hình chuyên lúa (18,63 ngàn đồng) và gấp 2,36 lần mô hình lúa màu., giá trị ngày công cao hơn hẳn so với các mô hình sử dụng đất khác. Mô hình sử dung đất này rất phù hợp với định hướng sản xuất hàng hóa của huyện trong những năm tới. Mức độ đầu tư phân bón và thuốc BVTV cao hơn nhiều so với đất chuyên lúa, lúa - màu, nhưng rất đa dạng và khác nhau cho các loại cây trồng, trung bình phân chuồng được bón từ 15 - 20tấn/ha/năm, lượng đạm trung bình bón 350 - 400kg kg/ha/năm (cá biệt có trường hợp bón tới 700kg/ha/năm), lân từ 120 -250kg/ha/năm, kali ít được sử dụng, thuốc BVTV có số lần phun và lượng phun rất khác nhau giữa các nhóm cây trồng, trung bình phun từ 6 đến 9 lần (tương ứng 4 - 7kg/ha/năm). Một số đặc tính hóa học của đất có xu hướng biến đổi theo chiều hướng tích cực so với đất chuyên lúa và lúa - màu, như các chỉ tiêu pH, lân và kali dễ tiêu, Ca2+, Mg2+, Na+, CEC, BS, riêng OC và N tổng số giảm. Hàm lượng các kim loại nặng trong đất đều chưa vượt ngưỡng tối đa cho phép đối với đất sản xuất nông nghiệp, có sự tương quan giữa Cu và Pb, Cu và Zn tuy nhiên mức độ không chặt, hàm lượng Pb tổng số ở các ruộng có mức thâm canh cao xấp xỉ ngưỡng cho phép.
6.4. Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã đề xuất định hướng quy hoạch cho một số kiểu sử dụng đất thuộc các mô hình sử dụng phổ biến trên địa bàn huyện Tứ Kỳ đến năm 2020 theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, mở rộng diện tích các cây trồng có thế mạnh của huyện.
7. Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc: Tháng 6/2012 - 12/2012
8. Kinh phí thực hiện: 191.000.000 đồng

Những tin mới hơn