Quảng Ninh: Nỗi lo đô thị trên nền đất rỗng

Đăng lúc: Thứ hai - 09/06/2014 10:27 - Người đăng bài viết: admin

Quảng Ninh

Quảng Ninh

Tại kỳ họp thứ 12, HĐND tỉnh Quảng Ninh khóa VII đã thông qua bản đề án thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản Quảng Ninh đến năm 2020 tầm nhìn 2030, gồm 4 nhóm giải pháp về: Cơ chế, chính sách, khoa học, môi trường, vốn đầu tư. Cử tri xa gần quan tâm nhiều đến giải pháp “môi trường”. Bởi khai khoáng đã để lại hệ lụy môi trường, an toàn mặt đất sát sườn đời sống người dân.
Biến cố và bất trắc trong lòng đất

Tháng 8/2013, hố “tử thần” liên tiếp xuất hiện tại các phường: Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, TP Cẩm Phả. 70 hộ dân của phường Cẩm Sơn, Cẩm Thủy và Cẩm Phú ở trên đất vùng nguy hiểm, 17 hộ phải khẩn trương lánh nạn. Hai năm (2011 - 2012) P.Cao Xanh, TP Hạ Long xuất hiện 9 hố “tử thần” ảnh hưởng 150 hộ dân. TP phải bỏ ra 70 tỷ đồng tạo quỹ đất ở, cấp cho 69 hộ di cư thoát hiểm khẩn cấp khỏi điểm đất thụt. Huyện Hoành Bồ một đêm mất tích 3 cây cột điện. P.Vàng Danh, TP Uông Bí giữa trưa hè tạnh ráo, một bụi tre già tụt sâu xuống lòng đất. Hố “tử thần” miệng rộng trên dưới 20m2, họng sâu 5 - 15m, sức tàn phá khốc liệt nuốt chửng nhà cửa, vườn tược, làm biến dạng mặt đất, kéo đổ các công trình xây dựng, nguy hiểm tính mạng con người.

Các chuyên gia địa chất mỗi người nói một phách. Người cho rằng nó là họng núi lửa. Người cho đây là hiện tượng sụt tầng nước ngầm. Người phỏng đoán hố “tử thần” dưới đáy có dòng sông cổ. UBND TP Cẩm Phả đã mời Cty CP Công nghệ Địa Vật lý đến kiểm tra, khảo sát hiện trường cho biết: Vùng đất sụt lún này nằm trên vùng đất có chứa nước ngầm, không phải do khai thác than hầm lò. Còn những người thợ lâu đời ở vùng mỏ thì nói khác, họ cho hiện tượng lún thụt, biến dạng mặt đất ở đây là do hậu quả của khai thác khoáng sản dưới lòng đất, bao gồm nước và than.

Nghề khai thác than ở Quảng Ninh có từ năm 1839. Năm 1887 - 1954, thực dân Pháp đã khai thác 55 triệu tấn. Sau ngày giải phóng khu mỏ, sản lượng than khai thác hằng năm được nhân lên nhiều lần. Gần đây Tập đoàn Than & Khoáng sản Việt Nam khai thác trên 40 triệu tấn/năm. 4 DN than hầm lò ở TP Hạ Long, năm 2011 khai thác trên 12 triệu tấn/năm, tổng đường lò đi vào lòng đất 45km. Ngành than đang chuyển dịch công nghệ khai thác lộ thiên, xuống hầm lò. Hằng năm đường lò ăn vào lòng đất khoảng 400km, tương ứng với quãng đường bộ từ TP Hạ Long đến TP Thanh Hóa. Khai thác được 1 tấn than dưới lòng đất, phải bốc đi 5m³ đất đá. Một cán bộ kỹ thuật của Cty Than Hà Lầm cho biết: Mỗi năm đường lò của mỏ này tiến vào lòng đất từ 16 - 17km, dưới địa tầng là khai trường, trên mặt đất là nhà ở của dân. Anh Phạm Văn Sơn - Phó chủ tịch UBND P.Cao Xanh cho biết: Hàng vạn hộ dân ở đây đang sinh sống trên những đường lò cũ, dự án đô thị mới Đồi Chè xây trên bể than đã khai thác. Cứ khai thác 1 tấn than hầm lò, làm ung ruỗng gần 6m³ lòng đất. Vậy đương nhiên nhà cửa bên trên như xây trên tổ mối, thình lình là đất thụt.

Phải quản lý đất đai chặt chẽ

Quảng Ninh có vựa than khổng lồ, tổng trữ lượng và tài nguyên 8.826 triệu tấn, ngoài ra còn có nguồn nước ngầm dồi dào, trữ lượng trên 60.000m3/ngđ. Nước ngầm lòng đất có nhiều khe hở, khoảng trống tạo túi nước. Gần đây mực nước ở tầng chứa nước đang có nguy cơ hạ thấp với mức độ 0,4 - 0,6m/năm, do giếng khoan hút lên mặt đất quá khả năng sinh thủy của lòng đất. Hai TP lớn: Hạ Long, Cẩm Phả công suất khai thác nước ngầm chỉ còn được 7.000 - 10.000m3/ngđ. Túi nước cạn, đương nhiên sinh lở thành vách, khiến sụt lún địa tầng.

Năm 2013 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn”. PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ - Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học Bách khoa TP.HCM đưa ra giải pháp đổ nước xuống lòng đất. Mô hình bổ sung nhân tạo nước dưới đất bằng nước mưa tính khả thi cao, nên yêu cầu các DN khai thác nước ngầm phục vụ thương mại áp dụng thí điểm, rồi nhân ra diện rộng để hoàn trả lòng đất khối lượng nước đã mất, vì sự bảo vệ tài nguyên và an ninh mặt đất. Hoàn nguyên khai thác than quặng là việc phải làm và đã trở thành phổ biến. Các nước tiên tiến khai thác hết than đến đâu, họ dùng bã sàng phun xuống vít ngay khoảng trống đến đó gọi là phương pháp chèn lò, hoàn nguyên lòng đất. Vậy sao ta không làm nhỉ? DN làm than biết rõ điều này, hằng năm bỏ ra 1,5% tổng chi phí cho sản xuất, với trên 700 tỷ đồng để hoàn nguyên môi trường. Nhưng chưa có dự án nào hoàn nguyên lòng đất.

Sau năm 2015, các DN làm than chuyển hướng xuống khai thác hầm lò ở độ sâu âm 300 - 350m. Lòng đất càng chứa đầy biến cố và bất trắc. Vì vậy khai thác khoáng sản phải tính toán mức độ tác động môi trường trong lòng đất, phải công khai khai trường dưới lòng đất, giám sát công trình ngầm dưới lòng đất. Khai thác khoáng sản đến đâu, vùi lấp vít ngay khoảng rỗng trong lòng đất đến đó. Nên tách biệt đất khai khoáng với đất ở, không để tình trạng đất xây dựng xen kẽ, hoặc chồng lấn trên đất ranh giới bảo vệ tài nguyên mỏ. Phải khắc phục những tồn tại trong quản lý đất đai, bao năm nay vô tình đã cấp quyền sử dụng đất, cấp phép xây nhà ở ngay trên vỉa than, trên các đường lò cũ, trên các túi nước ngầm cạn kiệt.


Nguồn tin: Theo www.monre.gov.vn

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn