Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính về đất đai để đưa đất đai trở thành nguồn lực quan trọng, đóng góp ngày càng nhiều cho phát triển kinh tế - xã hội

Đăng lúc: Thứ tư - 23/09/2015 03:47 - Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Kim Ngân

Ngày 29 tháng 11 năm 2013 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII Quốc hội thông qua Luật đất đai, Luật đã thể chế hóa những quan điểm, định hướng nêu tại Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; trong đó đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng về lĩnh vực tài chính đất đai, giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất để quản lý, sử dụng đất đai một cách hiệu quả và khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính về đất đai để đưa đất đai trở thành nguồn lực quan trọng, đóng góp ngày càng nhiều cho phát triển kinh tế - xã hội

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính về đất đai để đưa đất đai trở thành nguồn lực quan trọng, đóng góp ngày càng nhiều cho phát triển kinh tế - xã hội

Căn cứ vào những quy định của Luật Đất đai năm 2013, Chính phủ, các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo thẩm quyền đã kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai để các địa phương tổ chức thực hiện, cụ thể như: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP, Nghị định số 102/2014/NĐ-CP, Nghị định số 104/2014/NĐ-CP. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã ban hành Thông tư 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất; Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; đồng thời chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 4 tháng 4 năm 2015 về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT- BTP ngày 04 tháng 4 năm 2015 Quy định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất.
1. Những nội dung đổi mới về cơ chế tài chính đất đai, giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất
Có thể khái quát một số nội dung đổi mới về cơ chế tài chính đất đai, giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất như sau:
a) Về cơ chế tài chính đất đai:
- Thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả; việc giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Thiết lập sự bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; cho phép nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê và được áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án như các nhà đầu tư trong nước.
- Bổ sung, làm rõ cơ chế chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp theo hướng thủ tục chặt chẽ hơn (phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền); tài chính đất đai và giá đất khi chuyển mục đích rõ ràng, minh bạch hơn và đặc biệt phải theo cơ chế thị trường.
- Quy định cụ thể nguyên tắc tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; căn cứ tính tiền sử dụng đất là diện tích đất, mục đích sử dụng đất, giá đất và thời hạn sử dụng đất; thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất. Bổ sung quy định cụ thể về nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất: nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trả một lần cho cả thời gian thuê bằng mức chênh lệch giữa tiền của loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất và tiền của loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đất; nộp tiền thuê đất hàng năm theo loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thời gian được gia hạn. Đồng thời quy định bổ sung đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số ở vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; đất ở cho người phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số; sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp của tổ chức sự nghiệp công lập; sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở, sân phơi, nhà kho; xây dựng cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối đối với hợp tác xã nông nghiệp.
b) Về giá đất:
- Quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; theo thời hạn sử dụng đất; phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất hoặc giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất; cùng một thời điểm các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như nhau.
- Quy định khung giá đất, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và được điều chỉnh khi thị trường có biến động; bổ sung quy định đối với trường hợp các địa phương không thống nhất được giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định. Bảng giá đất được áp dụng đối với các trường hợp: (1) tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân; (2) tính thuế sử dụng đất; (3) tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai; (4) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; (5) tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai; (6) tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
 - Quy định giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định áp dụng đối với các trường hợp: (1) tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức quy định; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân, tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; (2) tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức mà phải nộp tiền sử dụng đất; (3) tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; (4) tính giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (5) tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Về tổ chức thực hiện: Luật đã quy định cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường) có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể; Hội đồng thẩm định giá đất; vị trí của tư vấn giá đất trong việc xác định giá đất; quyền và nghĩa vụ của tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất và việc thuê tư vấn để xác định giá đất cụ thể.
c) Về tạo lập, phát triển quỹ đất:
- Quy định thu hồi đất để đấu giá quyền sử dụng đất; thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trên đất thu hồi để đấu giá; đầu tư xây dựng các khu, điểm tái định cư để giao đất cho thuê đất đối với người bị thu hồi đất.
- Quy định thành lập tổ chức dịch vụ công về đất đai tại các địa phương, hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện nhiệm vụ: quản lý quỹ đất nhà nước đã thu hồi; tạo lập và phát triển quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; lập dự án và tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng nhà đất tái định cư; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trên đất để đấu giá và tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
- Quy định cụ thể về Quỹ phát triển đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc ủy thác cho Quỹ đầu tư phát triển, quỹ tài chính khác của địa phương để ứng vốn cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, để tạo lập, phát triển quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện đầu tư xây dựng nhà đất tái định cư, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trên đất để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
d) Về đấu giá quyền sử dụng đất:
- Quy định rõ nguyên tắc đấu giá quyền sử dụng đất phải công khai, liên tục, khách quan, trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về đấu giá tài sản.
- Quy định cụ thể về điều kiện để tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất là đất đã giải phóng mặt bằng và có phương án đấu giá được cấp thẩm quyền phê duyệt; tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá quyền sử dụng đất phải bảo đảm điều kiện là đối tượng được giao đất, cho thuê đất, được sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Quy định mở rộng và cụ thể các trường hợp giao đất, cho thuê đất phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất gồm: (1) giao đất xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê/cho thuê mua; (2) xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng/cho thuê; (3) đất ở tại đô thị, nông thôn cho hộ gia đình, cá nhân; (4) sử dụng quỹ đất để tạo vốn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; (5) cho thuê đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; (6) cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; (7) giao đất, cho thuê đất đối với đất Nhà nước thu hồi do sắp xếp lại, xử lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh mà tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu nhà nước; (8) giao đất, cho thuê đất đối với các trường hợp được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Thu hẹp và quy định rõ các trường hợp được giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất gồm: giao đất không thu tiền sử dụng đất; được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; giao, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao; cho tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao thuê sử dụng đất để xây dựng trụ sở làm việc; cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm đối với đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; sử dụng đất vào mục đích hoạt động khoáng sản; sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội và nhà ở công vụ; giao đất ở cho cán bộ, công chức, viên chức chuyển nơi công tác theo quyết định điều động của cơ quan có thẩm quyền; giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại xã mà không có đất ở và chưa được Nhà nước giao đất ở; đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại thị trấn thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà không có đất ở và chưa được Nhà nước giao đất ở; giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất mà không có người tham gia hoặc trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc đấu giá ít nhất là 02 lần nhưng không thành công.
            2. Đánh giá sơ bộ về kết quả thực hiện cơ chế tài chính đất đai, giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất
Sau hơn 01 năm triển khai thực hiện luật Đất đai 2013; việc áp dụng thực hiện trong thực tế các quy định về cơ chế tài chính đất đai liên quan trực tiếp trong giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất đã từng bước đem lại hiệu quả tích cực, có thể sơ bộ đánh giá chung kết quả thực hiện những cơ chế đối với việc phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội như sau:
- Cơ chế quy định đã thể hiện quan điểm mở rộng việc sử dụng đất cho các đối tượng và nhà đầu tư, tạo điều kiện cho nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài tiếp cận đất đai dễ dàng để triển khai thực hiện các dự án đầu tư thuận lợi; đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư thông qua quy định các điều kiện về năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư, ký quỹ sử dụng đất, …
- Những quy định về cơ chế tài chính đất đai liên quan trực tiếp trong giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất vừa bảo đảm tính công khai, mimh bạch, vừa tăng cường việc sử dụng đất theo đúng kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, tăng cường sự chủ động của Nhà nước điều tiết nguồn cung về đất đai ra thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời khai thác các nguồn thu từ đất đai theo cơ chế thị trường một cách hiệu quả lâu dài bền vững và phát huy nguồn lực từ đất đai phục vụ cả phát triển kinh tế và xã hội.
- Các quy định về cơ chế giao đất. cho thuê đất không thu tiền sử dụng đất đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các trường hợp thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với nước, hộ gia đình nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số... đã phù hợp với yêu cầu thực tế, phục vụ yêu cầu quản lý, phát triển xã hội và giải quyết được nguyện vọng chính đáng về nhà ở, đất ở của nhân dân.
Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng và tổ chức thực hiện cơ chế tài chính đất đai, xác định giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất cũng cho thấy còn có những hạn chế nhất định trong quy định của của pháp luật và tổ chức thực hiện như việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết cụ thể một số nội dung về tài chính đất đai, giá đất, tạo quỹ đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất của Luật Đất đai (gồm Quy chế mẫu về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất; Thông tư quy định việc cấp phát, hạch toán, thanh quyết toán kinh phí, huy động, sử dụng các nguồn vốn của Quỹ phát triển đất và cơ chế ủy thác cho Quỹ đầu tư phát triển, quỹ tài chính khác của địa phương đối với trường hợp không thành lập Quỹ phát triển đất theo quy định về quản lý ngân sách và quỹ tài chính của Nhà nước; Quyết định kiện toàn tổ chức phát triển quỹ đất tại địa phương theo Thông tư số 16/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015; Thông tư liên tịch hướng dẫn thẩm định giá đất cụ thể; Thông tư liên tịch quy định về luân chuyển hồ sơ địa chính giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên và môi trường... còn thiếu hoặc chưa kịp thời; việc tổ chức thực hiện đối với một số quy định còn chưa quyết liệt hoặc một số địa phương chưa thật sự chú trọng trong chỉ đạo và quy định rõ trách nhiệm của đơn vị tổ chức thực hiện hoặc cải cách thủ tục hành chính.
            3. Một số đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính đất đai, giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Để tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính đất đai liên quan trực tiếp trong giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, phát triển quỹ đất và đấu giá quyền sử dụng đất nhằm huy động nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ hiệu quả cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất một số giải pháp sau:
- Về cơ chế chính sách: các Bộ ngành theo chức năng nhiệm vụ đã được Chính phủ giao khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế mẫu về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất; nghiên cứu đề xuất Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quy định các phương thức, nguồn vốn và cơ chế tài chính trong tạo lập phát triển quỹ đất, trong sử dụng đất để tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để làm căn cứ cơ sở cho các địa phương thực hiện, đơn vị dịch vụ công về đất đai có nguồn kinh phí làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đất thực hiện các dự án, tạo quỹ đất sạch và đầu tư xây dựng trên đất, nâng cao giá trị đất để đấu giá quyền sử dụng đất phục vụ phát triển và tăng nguồn thu từ đất; đồng thời theo thẩm quyền sớm ban hành thông tư quy định việc cấp phát, hạch toán, thanh quyết toán kinh phí, huy động, sử dụng các nguồn vốn của Quỹ phát triển đất theo quy định về quản lý ngân sách và quỹ tài chính của Nhà nước; phối hợp ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thẩm định giá đất cụ thể, thông tư liên tịch quy định về luân chuyển hồ sơ địa chính giữa cơ quan tài nguyên và môi trường và cơ quan thuế,.... Nghiên cứu, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về giá đất trong cơ sở dữ liệu về đất đai đáp ứng yêu cầu xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai, cung cấp thông tin cho người dân và doanh nghiệp.
-  Về tổ chức thực hiện: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo mạnh mẽ quyết liệt hơn việc triển khai thực hiện kiện toàn lại Tổ chức Phát triển quỹ đất theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai để đẩy nhanh và nâng cao năng lực hoạt động của Tổ chức dịch vụ công trong thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất; tạo lập và phát triển quỹ đất và các nhiệm vụ khác để kịp thời phục vụ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Kiện toàn tổ chức, bộ máy định giá đất thuộc ngành tài nguyên và môi trường bảo đảm năng lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; phát triển và quản lý chặt chẽ Tổ chức tư vấn giá đất độc lập nhằm nâng cao chất lượng tư vấn xác định giá đất. Chú trọng và đẩy mạnh việc thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để tạo quỹ đất “sạch”; xây dựng các khu điểm tái định cư phục vụ thu hồi đất; tăng cường tạo lập phát triển quỹ đất ở, quỹ đất phi nông nghiệp và đầu tư hạ tầng trên đất thu hồi, đấu giá quyền sử dụng đất để bảo đảm và chủ động  phục vụ nhu cầu sử dụng đất thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, điều tiết thị trường bất động sản là quyền sử dụng đất và khai thác hiệu quả hơn nguồn thu tài chính từ đất đai. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định đầy đủ, cụ thể hơn trách nhiệm của các sở, ban, ngành trong thực hiện chức năng tham mưu, tổ chức thực hiện và cải cách thủ tục hành chính trong giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, phát triển quỹ đất, đấu giá quyền sử dụng đất để tạo điều kiện hỗ trợ, thúc đẩy và phát huy việc sử dụng đất tiết kiệm, đồng thời nâng cao hơn nữa việc khai thác các nguồn lực từ đất đai một cách hiệu quả lâu dài bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.
Tác giả bài viết: ThS. Trần Đình Hạnh - Phó Cục trưởng Cục Kinh tế và Phát triển quỹ đất

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn