Đẩy mạnh hoạt động điều tra đánh giá đất đai trong chiến lược phát triển bền vững ứng phó biến đổi khí hậu

Đăng lúc: Thứ tư - 23/09/2015 03:37 - Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Kim Ngân

Ngày nay phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như Việt Nam.
Đẩy mạnh hoạt động điều tra đánh giá đất đai trong chiến lược phát triển bền vững ứng phó biến đổi khí hậu

Đẩy mạnh hoạt động điều tra đánh giá đất đai trong chiến lược phát triển bền vững ứng phó biến đổi khí hậu

Chiến lược phát triển bền vững quốc gia bao gồm nhiều lĩnh vực trong đó sử dụng bền vững tài nguyên đất luôn được đặt lên hàng đầu với ưu tiên duy trì hệ sinh thái tự nhiên và nâng cao năng suất sinh học của các hệ sinh thái nhân tạo. Bất cứ một tác động nào phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái tối ưu như biến đổi khí hậu, sử dụng đất đai và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên không hợp lý trên từng điều kiện thành tạo đều dẫn tới hậu quả xấu đến tài nguyên đất.
Hòa nhập với xu thế toàn cầu hóa, điều tra đánh giá đất đai làm cơ sở cho việc định hướng quản lý sử dụng đất bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu trong tương lai là một nhiệm vụ cần ưu tiên trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.
1. Khái quát chung về thực trạng công tác điều tra, đánh giá đất đai
Hoạt động điều tra đánh giá đất đai ở Việt Nam được thực hiện từ nửa thế kỷ trước, bước đầu chủ yếu là xây dựng bản đồ đất theo một số đặc điểm phát sinh tự nhiên. Kết quả đã xây dựng được sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1/1.000.000 năm 1957; Bản đồ đất Miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1/500.000 năm 1963; Bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam, tỷ lệ 1/1.000.000;bản đồ thổ nhưỡng các tỉnh được xây dựng theo nguồn gốc phát sinh.
Với mục tiêu tính thuế sử dụng đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước năm 1993 (từ cấp tỉnh đến cấp xã), căn cứ đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, vị trí khoanh đất để đất nông nghiệp thành 6 hạng đất khác nhau.
Đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO cũng đã được tiếp cận sớm với nhiều nghiên cứu có kết quả bước đầu đưa ra được chỉ tiêu và tiêu chuẩn đánh giá phân hạng đất cho từng loại cây trồng, ở các phạm vi khác nhau, từ cả nước đến các vùng sinh thái, các tỉnh, các huyện và cả ở phạm vi các vùng chuyên canh hẹp. Giai đoạn 1990 -1995 đã thực hiện đối với các vùng sinh thái: Trung du miền núi Bắc bộ, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Duyên Hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000. Kết quả đã xác định được cả nước có 340 đơn vị đất đai, trong đó miền Bắc có 144 đơn vị đất đai, miền Nam có 196 đơn vị đất đai. Các kiểu thích hợp đất đai ở các vùng sinh thái cũng khác nhau, vùng có ít kiểu thích hợp nhất là vùng Trung du miền núi Bắc bộ (có 15 kiểu thích hợp), vùng có nhiều kiểu thích hợp nhất là vùng Duyên hải Nam Trung bộ (có 63 kiểu thích hợp).
Sau năm 2000, bản đồ đất cho 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở tỷ lệ 1/50.000 và 1/100.000 đã được chỉnh lý, bổ sung theo hệ thống phân loại định lượng của FAO-UNESCO và hoàn thành năm 2004.
 Trong thời gian này một số tỉnh đã xây dựng bản đồ đánh giá đất đai cấp tỉnh hoặc cấp huyện ở tỷ lệ bản đồ 1/1.25.000;1/50.000 hoặc 1/100.000 theo phương pháp đánh giá đất của tổ chức nông lương thế giới (FAO), một số dự án, đề tài nghiên cứu đã đi sâu về đánh giá đất cho từng cây trồng (chè, cao su, cà phê, lúa nước...) hoặc cho từng loại đất (thổ nhưỡng: đất bazan vùng Tây nguyên) cụ thể.
Trong quy trình đánh giá đất của FAO, điều tra đất được xem là một phần thiết yếu và yêu cầu thu thập đầy đủ các thông tin về thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thuỷ văn, lớp phủ thực vật và cả các điều kiện kinh tế - xã hội có liên quan đến mục đích sử dụng đất.
Từ 2005 -2010, Tổng cục Quản lý đất đai đã thực hiện một số dự án về điều tra đánh giá đất tiêu biểu là: Điều tra, đánh giá thực trạng môi trường đất của 3 vùng kinh tế trọng điểm gồm vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung, vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam; Thử nghiệm đánh giá tiềm năng đất đai theo hướng sử dụng bền vững trên địa bàn 3 tỉnh Yên Bái, Quảng Trị, Kiên Giang; Đánh giá chất lượng đất nông nghiệp sau chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản vùng Bán đảo Cà Mau. Những năm gần đây đã kết hợp quy trình đánh giá đất của FAO và công nghệ GIS  trong thực hiện các dự án về  điều tra thoái hóa đất cấp vùng, cấp tỉnh ở tỷ lệ bản đồ 1/250.000; 1/100.000:  Trung du và miền núi Bắc bộ, Bắc trung bộ; Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và thí điểm tại một số tỉnh Nam Định, Cao Bằng, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, An Giang.
Bảng 01. Diện tích đất bị thoái hóa 05 vùng kinh tế - xã hội
Vùng kinh tế - xã hội Diện tích (ha) Loại hình thoái hóa
Thoái hóa tổng hợp Xói mòn Khô hạn, hoang mạc hóa, sa mạc hóa Suy giảm độ phì nhiêu Kết von, đá ong hóa Mặn hóa Phèn hóa
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc Diện tích điều tra 8.733.679 8.733.679 8.733.679 8.733.679      
Diện tích thoái hóa 8.037.689 4.293.765 4.975.219 4.603.265      
Tỷ lệ (%DTĐT) 92,03 49,16 56,97 52,71      
Tiểu vùng Bắc Trung Bộ Diện tích điều tra 4.555.763 4.555.763 4.555.763 4.555.763 4.555.763 4.555.763
Diện tích thoái hóa 3.048.731 2.815.332 3.038.147 3.354.146 256.644 20.768
Tỷ lệ (%DTĐT) 66,92 61,8 66,69 73,62 5,63 0,46
Tiểu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Diện tích điều tra 3.933.282 3.933.282 3.933.282 3.933.282 3.933.282    
Diện tích thoái hóa 2.971.663 3.254.237 2.454.698 2.144.096 630.511    
Tỷ lệ (%DTĐT) 75,55 82,74 62,41 54,51 16,03    
Vùng Tây Nguyên Diện tích điều tra 5.464.127 5.464.127 5.464.127 5.464.127 5.464.127    
Diện tích thoái hóa 4.346.135 3.792.416 4.187.118 3.075.453 408.260    
Tỷ lệ (%DTĐT) 79,54 69,41 76,63 56,28 7,47    
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long Diện tích điều tra 3.351.153     3.351.153   3.351.153 3.351.153
Diện tích thoái hóa 1.234.487     857.150   688.423 436.001
Tỷ lệ (%DTĐT) 36,84     25,58   20,54 13,01
Ngoài kết quả điều tra đánh giá đất đã ban hành quy định kỹ thuật về điều tra thoái hóa đất tại thông tư số 14/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2012.
Các Bộ, ngành và địa phương đã thực hiện một số dự án, nhiệm vụ liên quan đến điều tra cơ bản về đất đai ở các thời điểm khác nhau. Tuy nhiên các dự án, nhiệm vụ này thực hiện lồng ghép nhiều mục tiêu, nội dung khác nhau, ở các phạm vi khác nhau và thử nghiệm bằng nhiều phương pháp khác nhau, mặc dù kết quả các dự án đã hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, nhưng chưa phản ánh được thực trạng tài nguyên đất của cả nước, các vùng, các địa phương. Nhìn chung việc đầu tư cho công tác điều tra cơ bản về đất đai vẫn chỉ tập trung nhiều vào số lượng, diện tích đất đai thông qua việc thống kê đất đai hàng năm và tổng kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất 5 năm một lần. Còn về chất lượng đất, tiềm năng đất đai, thoái hóa đất, ô nhiễm đất, phân hạng đất nông nghiệp chưa được tiến hành định kỳ ở các cấp và cũng chưa quan trắc, giám sát tài nguyên đất hàng năm vì công tác này chưa được chú trọng đầu tư một cách toàn diện. Như vậy, trước khi luật đất đai 2013 có hiệu lực, việc đầu tư điều tra, đánh giá đất đai chưa bao giờ được triển khai một cách đồng bộ (từ cả nước, các vùng kinh tế xã hội, các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương), theo một quy định kỹ thuật thống nhất cho từng hoạt động điều tra, đánh giá đất đai.
2. Đẩy mạnh hoạt động điều tra đánh giá đất đai phục vụ quản lý sử dụng đất bền vững.
Quốc hội đã xác định công tác điều tra cơ bản về đất đai là một nhiệm vụ quan trọng, như là một trong những giải pháp thực hiện chiến lược phát triển bền vững: “Tăng cường đầu tư cho công tác điều tra cơ bản về đất đai; xây dựng cơ sở dữ liệu, hoàn thiện hệ thống thông tin về đất đai…” [1]
Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI chỉ đạo tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó nêu rõ “Đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá chất lượng, tiềm năng đất đai đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng đất, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững”; [2]
Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án nâng cao năng lực  ngành quản lý đất đai đã xác định một trong các nhiệm vụ của ngành là “Tập trung điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng và chất lượng tài nguyên đất đai toàn quốc, trong đó chú trọng việc điều tra các vùng đặc thù về thoái hóa, xâm nhập mặn, ngập úng, khô hạn, hoang mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm đất phục vụ quản lý, sử dụng đất bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu”.[3]
Để cụ thể hóa Nghị quyết nêu trên, Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua trong đó những quy định về điều tra, đánh giá đất đai là những nội dung hoàn toàn mới. Tại Khoản 1 Điều 32 đã quy định cụ thể về các hoạt động điều tra, đánh giá đất đai bao gồm: điều tra, đánh giá về chất lượng đất, tiềm năng đất đai; điều tra, đánh giá thoái hóa đất, ô nhiễm đất; điều tra, phân hạng đất nông nghiệp; thống kê, kiểm kê đất đai; điều tra, thống kê giá đất, theo dõi biến động giá đất; xây dựng và duy trì hệ thống quan trắc giám sát tài nguyên đất. Tại Khoản 2 Điều 32 đã quy định việc điều tra, đánh giá đất đai bao gồm các nội dung: lấy mẫu, phân tích, thống kê số liệu quan trắc đất đai; xây dựng bản đồ về chất lượng đất, tiềm năng đất đai, thoái hóa đất, ô nhiễm đất, phân hạng đất nông nghiệp, giá đất; xây dựng báo cáo đánh giá về chất lượng đất, tiềm năng đất đai, thoái hóa đất, ô nhiễm đất, phân hạng đất nông nghiệp, giá đất; xây dựng báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, báo cáo về giá đất và biến động giá đất. Tại Điều 33 đã quy định rõ về trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh trong việc tổ chức thực hiện, công bố kết quả điều tra, đánh giá đất đai và định kỳ tổ chức thực hiện việc điều tra, đánh giá đất đai theo định kỳ 05 năm một lần.
Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về đất đai và hoàn thành tổng điều tra về đất đai trong năm 2015, trong đó tập trung điều tra chi tiết một số loại đất quan trọng; đánh giá tiềm năng và chất lượng tài nguyên đất, đặc biệt chú trọng đến các vùng có nguy cơ thoái hóa, xâm nhập mặn, ngập úng, khô hạn, hoang mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm đất.
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19 đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý, sử dụng đất đai, trong đó nhất mạnh: “tăng cường công tác điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên đất phục vụ quản lý, sử dụng đất bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu; thực hiện tổng điều tra về đất đai, trong đó tập trung xác định diện tích một số loại đất quan trọng; đánh giá tiềm năng và chất lượng tài nguyên đất, đặc biệt chú trọng đến các vùng có nguy cơ thoái hóa, xâm nhập mặn, ngập úng, khô hạn, hoang mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, ô nhiễm đất”[4].
Như vậy hoạt động điều tra, đánh giá đất đai được xác định là một nhiệm vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp tỉnh theo định kỳ 5 năm một lần đã đượcTrung ương Đảng chỉ đạo, Quốc hội chính thức phê chuẩn và Chính phủ yêu cầu phải thực hiện thông qua hệ thống văn bản quy phạm Pháp luật. Điều này cho thấy đã đến lúc cần thiết phải đưa việc điều tra, đánh giá đất đai thành một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của ngành, là một trong những mục tiêu của chiến lược nâng cao năng lực ngành Quản lý đất đai và chiến lược sử dụng đất bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu có tính toàn cầu.
Để thực hiện được chiến lược này nhất thiết phải có cuộc Tổng điều tra, đánh giá tài nguyên đất toàn quốc (lần đầu tiên) như là một lần tổng kiểm kê về chất lượng, tính chất, đặc điểm đất đai song song cùng với việc kiểm kê đất đai về số lượng đã được tiến hành. Kết quả thực hiện sẽ giúp Quốc hội, Chính phủ, cơ quan Quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương nắm chắc quỹ đất cả về số lượng, chất lượng, tiềm năng, xu thế suy thoái đất theo mức độ và theo từng khu vực (đối với cấp vùng), vị trí đặc thù (đối với cấp tỉnh).
Đồng phải đẩy mạnh Điều tra, đánh giá đất đai kết hợp giám sát tài nguyên đất theo định kỳ hàng năm và 5 năm một lần với mục tiêu chính là cơ sở để xây dựng chiến lược sử dụng đất bền vững, lâu dài cũng như quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất theo từng kế hoạch ngắn, trung và dài hạn, đáp ứng với số lượng, chất lượng đất phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà đất đai là tài nguyên quý vừa được khai thác sử dụng vừa được cải tạo và bảo vệ.
Điều tra đánh giá đất đai định kỳ cần được đẩy mạnh nhằm đảm bảo các mục tiêu cụ thể sau:
Đánh giá đầy đủ toàn diện, chính xác, khoa học nguồn tài nguyên đất đai của cả nước và các vùng kinh tế - xã hội để quản lý chặt chẽ, khai thác sử dụng có hiệu quả về số lượng, chất lượng tài nguyên đất đai phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
 Đánh giá đầy đủ, toàn diện, chính xác, khoa học nguồn tài nguyên đất đai toàn quốc; giám sát chặt chẽ tình hình diễn biến chất lượng tài nguyên đất đai và đánh giá tác động, ảnh hưởng của chính sách, pháp luật về đất đai đến tài nguyên đất đai để đề xuất các cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm bảo vệ, nâng cao chất lượng tài nguyên đất đai, góp phần hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai hiện đại, tập trung, thống nhất.
 Đánh giá thực trạng chất lượng đất, tiềm năng đất đai và phân hạng đất nông nghiệp của các loại đất theo mục đích sử dụng (diện tích, phân bố) làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp bảo vệ, định hướng khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.
 Đánh giá thực trạng thoái hóa đất; xác định cụ thể nguyên nhân cũng như xu thế và các quá trình thoái hóa đất làm cơ sở đề xuất giải pháp cải tạo, phục hồi và khai thác sử dụng đất bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.
 Cung cấp dữ liệu về tài nguyên đất để tích hợp vào cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia (nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về điều tra đánh giá đất đai trên phạm vi cả nước) nhằm giám sát chặt chẽ tình hình diễn biến chất lượng tài nguyên đất đai; góp phần hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai hiện đại, tập trung, thống nhất và phục vụ đa mục tiêu.
 Cung cấp thông tin, số liệu tài liệu làm căn cứ lập, điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2020 - 2030.
 Cung cấp số liệu cho hệ thống theo dõi quản lý sử dụng đất và hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia và phục vụ nhu cầu thông tin về tài nguyên đất cho các hoạt động kinh tế, xã hội, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác của Nhà nước.
Tài liệu tham khảo
[1]Trích Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia.
[2] Trích Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012
[3]Quyết định số 1892/QĐ-TTg ngày 14/12/2012 về việc phê duyệt “Đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2011 - 2020”.
[4] Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI)
Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Thị Thu Trang - Phó Giám đốc Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất, Tổng cục Quản lý đất đai

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Land Portal

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất Luật Đất Đai ?

Đã đầy đủ nội dung

Cần có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai hơn nữa

Tốt. Có nhiều nội dung quy định chi tiết

Cần có bộ phận hỗ trợ trực tuyến

Cần có sổ tay hướng dẫn