Tên / Số / ký hiệu : Dự thảo chiến lược Ngành QLĐĐ
Về việc / trích yếu

Dự thảo Chiến lược Phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến năm 2030

Ngày 11/10/2011
Loại văn bản Hướng dẫn
Đơn vị / phòng ban
Lĩnh vực
Người ký duyệt
Cơ quan / đơn vị ban hành Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường
Tải về máy Đã xem : 3435 | Đã tải: 122
Nội dung chi tiết
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
———————————
(Dự thảo)
  CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————
 
 
CHIẾN LƯỢC
Phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam                                                          giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến năm 2030
——————————————————
 
 
MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Quản lý nhà nước về đất đai là nhu cầu khách quan, là công cụ bảo vệ và điều tiết các lợi ích gắn liền với đất đai.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành Quản lý đất đai Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt là đã tạo điều kiện để tiềm năng đất đai trở thành nguồn nội lực phát triển kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, góp đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp với mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu, công tác quản lý đất đai vẫn còn bất cập, một số vấn đề về quan hệ đất đai chưa được giải quyết triệt để và thống nhất, tiềm năng đất đai chưa được khai thác triệt để trong cơ chế thị trường. Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học công nghệ phát triển với tốc độ nhanh, sự hình thành của kinh tế tri thức đã có tác động đến xu hướng phát triển của hệ thống quản lý đất đai các nước trên thế giới.
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều cơ hội cũng như thách thức, ngành Quản lý đất đai cần hoạch định chiến lược phát triển một cách toàn diện với tầm nhìn dài hạn. Vì vậy, xây dựng "Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến 2030" là quan trọng và cấp bách.
"Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến 2030" cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển bền vững đối với lĩnh vực tài nguyên - môi trường trong “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” trong lĩnh vực quản lý đất đai. Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam đánh giá một cách khách quan thực trạng phát triển của Ngành, xác định rõ những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp để hệ thống quản lý đất đai của nước ta từng bước trở thành một hệ thống quản lý đất đai hiện đại.
Phần 1
THỰC TRẠNG VÀ BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN NGÀNH
I. Quá trình hình thành và phát triển Ngành
1. Hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ
a)    Hệ thống tổ chức
Sau khi nước ta giành được độc lập, cơ quan phụ trách về quản lý đất đai của Phủ Toàn quyền Đông Dương là Sở Trước bạ - Văn tự - Quản thủ điền thổ và Thuế Trực thu được Bộ Tài chính tiếp nhận theo Sắc lệnh số 41 ngày 03 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch nước. Sau đó Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ được thành lập trong cơ cấu của Bộ Tài chính, kèm theo đó là hệ thống các đơn vị trực thuộc ở cấp tỉnh nhằm duy trì hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Từ đó đến năm 1953, các cơ quan quản lý đất đai được sáp nhập vào Bộ Canh nông, rồi trở lại Bộ Tài chính để phục vụ mục đích thu thuế nông nghiệp. Hệ thống các cơ quan địa chính, đứng đầu là Sở Địa chính tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ ngành Tài chính đến năm 1958.
Sau Cải cách ruộng đất (1953 - 1958), do sự phát triển quan hệ ruộng đất mới ở nông thôn, ngành Quản lý ruộng đất được thiết lập và chuyển từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp. Hệ thống quản lý ruộng đất được tổ chức thành 4 cấp: cơ quan quản lý ruộng đất ở Trung ương là Vụ Quản lý ruộng đất; ở cấp tỉnh là Phòng Quản lý ruộng đất; ở cấp huyện là bộ phận Quản lý ruộng đất; ở cấp xã là cán bộ quản lý ruộng đất. Hệ thống cơ quan quản lý ruộng đất hoạt động trong cơ cấu ngành Nông nghiệp tới năm 1978.
Năm 1979, để tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt động quản lý đất đai vào một hệ thống cơ quan chuyên môn, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất quản lý nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cao đối với tất cả các loại đất. Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập theo 3 cấp (tỉnh, huyện và xã). Ở cấp tỉnh có Ban quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; từ sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1987 cho tới năm 1993 hầu hết các địa phương đã chuyển Ban Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành Chi cục Quản lý đất đai hoặc Chi cục Quản lý ruộng đất trực thuộc Sở Nông - Lâm nghiệp. Ở cấp huyện có Phòng Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, một số địa phương tại khu vực đô thị thành lập Phòng Quản lý nhà đất hoặc Phòng Nhà đất; từ năm 1988 - 1993 Phòng Quản lý ruộng đất sáp nhập vào các Phòng Nông Lâm nghiệp hoặc Phòng Kinh tế. Ở cấp xã có cán bộ quản lý ruộng đất chuyên trách.
Năm 1994, trước yêu cầu về tổ chức lại các cơ quan quản lý nhà nước và tăng cường công tác quản lý đất đai, Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính. Tại các địa phương đã thành lập Sở Địa chính trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, một số thành phố lớn thành lập Sở Địa chính - Nhà đất. Tại cấp huyện, từ năm 1995 cơ quan quản lý đất đai là Phòng Địa chính hoặc Phòng Địa chính - Nhà đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Tại cấp xã, có cán bộ địa chính.
Năm 2002, theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập. Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường có 2 đơn vị chuyên trách quản lý nhà nước về đất đai là Vụ Đất đai, Vụ Đăng ký và Thống kê đất đai. Các địa phương thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở sáp nhập Sở Địa chính, các đơn vị quản lý nhà nước về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước. Chức năng quản lý nhà nước về đất đai do một số đơn vị cấp phòng trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện. Tại cấp huyện có Phòng Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện. Tại cấp xã, có cán bộ địa chính.
Năm 2008, để tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực của ngành Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai được thành lập, là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm tập trung các hoạt động quản lý nhà nước về đất đai ở cấp Trung ương về một đầu mối chuyên trách. Đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 14 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị quản lý nhà nước và 5 đơn vị sự nghiệp. Tại cấp tỉnh, một số địa phương tiến hành thành lập Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường. Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có cơ cấu hoàn chỉnh gồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các phòng chức năng về quản lý đất đai và các đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra còn có Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Tổ chức Phát triển quỹ đất (hiện tại trong cả nước có 63 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh và 55 Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh). Tại cấp huyện, cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên và Môi trường. Một số đơn vị cấp huyện đã thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (528 Văn phòng) trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường. Tại cấp xã có cán bộ địa chính. Tuy nhiên, hệ thống cơ quan quản lý đất đai hiện nay về cấu trúc, chức năng nhiệm vụ còn một số điểm chưa hợp lý; năng lực quản lý đất đai các cấp còn hạn chế.  
Cơ sở vật chất của Ngành đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện. Hiện tại, các cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện đều có trụ sở làm việc, các trang thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc.
b)    Đội ngũ cán bộ
Trong giai đoạn 1960 - 1978, biên chế ở Trung ương (Vụ Quản lý ruộng đất) có khoảng 50 người; Phòng Quản lý ruộng đất trong Ty Nông nghiệp có từ 5 đến 6 người; Tổ Quy hoạch và Quản lý ruộng đất trong Ban Nông nghiệp huyện chỉ có 2 người làm công tác quản lý ruộng đất. Tại một số địa phương nhiều xã, phường, thị trấn không có cán bộ chuyên trách quản lý ruộng đất.
Từ năm 1980, sau khi Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý về đất đai ngành Quản lý đất đai đã nhanh chóng xây dựng một đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Khi mới thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất có gần 50 cán bộ, công nhân, viên chức; tới thời điểm sáp nhập để thành lập Tổng cục Địa chính năm 1994, đội ngũ cán bộ của Ngành đã có 139 người làm việc tại cơ quan Trung ương và gần 3.000 người làm việc tại các cơ quan ở địa phương (không kể cán bộ làm việc tại cấp xã). Trong thời kỳ hoạt động của Tổng cục Địa chính (1994 - 2002), đội ngũ cán bộ quản lý đất đai đã phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Ngành; thời kỳ này đội ngũ cán bộ trực thuộc Tổng cục lên tới 2.850 người (bao gồm cả cán bộ, công nhân viên thuộc các đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp trắc địa và bản đồ, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đo đạc và lập bản đồ địa chính).
Hiện tại, toàn ngành có trên 33.000 người. Trong đó, số cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp làm công tác quản lý đất đai theo các cấp như sau: Trung ương có trên 450 công chức, viên chức (đại học và trên đại học 81%; cao đẳng và trung học chuyên nghiệp 19%); cấp tỉnh có trên 6.000 công chức, viên chức (đại học và trên đại học 72%; cao đẳng và trung học chuyên nghiệp 28%); cấp huyện có trên 12.000 công chức, viên chức (đại học và trên đại học 67%; cao đẳng và trung học chuyên nghiệp 33%); cấp xã, phường, thị trấn có trên 11.000 cán bộ địa chính, trong đó, gần 73% đã qua các khóa đào tạo chính quy, bán chính quy (đại học 3,4%; trung học chuyên nghiệp 36,1%; sơ cấp 60,5%).
2. Chức năng và nhiệm vụ
Chức năng của ngành Quản lý đất đai trong suốt quá trình phát triển là thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực đất đai, đó là bảo vệ chế độ sở hữu và điều tiết lợi ích về đất đai. Nhiệm vụ của Ngành được xác định một cách cụ thể để đáp ứng các yêu cầu quản lý và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
Thời kỳ đầu, nhiệm vụ của Ngành là bảo vệ chế độ sở hữu đất đai, thu thuế điền thổ cho ngân sách. Trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Ngành tập trung vào nhiệm vụ huy động thuế nông nghiệp phục vụ kháng chiến. Sau thắng lợi của cuộc Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, ngành Quản lý đất đai (Địa chính) đã thực hiện nhiệm vụ tổ chức đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính để nắm diện tích ruộng đất, phục vụ việc kế hoạch hoá và hợp tác hoá nông nghiệp, tính thuế ruộng đất, xây dựng đô thị…
Giai đoạn 1960 - 1978, nhiệm vụ chủ yếu của ngành Quản lý ruộng đất là: "Quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp", ngành Quản lý ruộng đất đã có đóng góp to lớn trong việc mở rộng và sử dụng có hiệu quả diện tích đất nông nghiệp, xây dựng kinh tế hợp tác xã và phát triển nông thôn.
Sau khi thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (năm 1979), sự kiện đánh dấu bước khởi đầu quá trình thống nhất công tác quản lý đất đai là việc ban hành Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ, trong đó quy định 7 nhóm nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
Luật Đất đai đầu tiên năm 1987 cũng quy định 7 nhóm nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai, cơ bản như quy định tại Quyết định 201/CP. Cho đến nay, Luật Đất đai đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới bốn lần vào các năm 1993, 1998, 2001 và 2003; nội dung quản lý nhà nước về đất đai luôn được kế thừa, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế; cụ thể đã phát triển thành 13 nhóm nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
          Nhiệm vụ của ngành Quản lý đất đai trong giai đoạn hiện nay gồm: xây dựng trình cơ quan nhà nước ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai; quản lý tài chính về đất đai; quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; quản lý, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
II. Thực trạng các hoạt động của Ngành
1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai 
          Ngay từ ngày đầu thành lập, công tác xây dựng các chính sách pháp luật đất đai của Ngành đã thể chế hoá được các chủ trương chính sách của Đảng gắn với mục tiêu, yêu cầu của thời đại là "độc lập dân tộc và người cày có ruộng", tạo ra động lực hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và củng cố khối liên minh công nông làm cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ xâm lược ở miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1954 -1975) tập trung vào thực hiện mục tiêu hoàn thành cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân; xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Chính sách công hữu hoá đất đai giai đoạn này đã tạo điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật như thuỷ lợi, giao thông nội đồng, giao thông nông thôn; quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh lớn. Sau khi đất nước thống nhất (1975), chính sách đất đai chủ yếu nhằm củng cố nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, thực hiện hợp tác hoá gắn liền với thuỷ lợi hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật... từng bước chuyển từ chế độ sở hữu tư nhân về đất đai sang hình thức sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước về đất đai.
Hiến pháp năm 1980 với quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân" và "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai" là nền tảng cho xây dựng hệ thống pháp luật đất đai, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các mối quan hệ đất đai. Bước chuyển quan trọng của thời kỳ này là việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất theo Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1979. Khái niệm “ruộng đất” đã được mở rộng ra ngoài phạm vi đất nông nghiệp, bao gồm mọi loại đất trong phạm vi ranh giới hành chính. Quyết định 201/CP là bước khởi đầu để xây dựng và ban hành Luật Đất đai đầu tiên năm 1987.
Năm 1987, trước yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, ngành Quản lý đất đai đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Đất đai đầu tiên của nước ta với điểm đột phá về chính sách là chủ trương giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài, tạo nên động lực phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa nước ta từ chỗ thiếu đói phải nhập khẩu lương thực đã sản xuất đủ lương thực bảo đảm an ninh lương thực quốc gia sau hai năm đổi mới và sau bốn năm đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ ba trên thế giới. Luật cũng có quy định để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giao đất ở, đất xây dựng đô thị, phát triển công nghiệp…
Năm 1993, nhận thức được vai trò của đất đai trong việc tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Quốc hội thông qua Luật Đất đai năm 1993 với đổi mới căn bản là thừa nhận đất đai có giá và được lưu thông như hàng hóa trên thị trường. Người sử dụng đất, bên cạnh quyền được sử dụng đất đúng mục đích theo quy định của pháp luật còn có các quyền giao dịch về đất đai, đó là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Giá đất do Nhà nước quy định để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1998 và 2001.
Năm 2003, nhằm khắc phục những bất cập, tồn tại và xử lý những vấn đề phát sinh mà pháp luật đất đai năm 1993 chưa quy định, đồng thời tiếp tục đổi mới chính sách đất đai phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2003. Luật này tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền của người sử dụng đất; khắc phục một bước rất quan trọng tình trạng bao cấp về giá đất, thừa nhận cơ chế thị trường trong việc xác định giá đất; đẩy mạnh phân cấp quản lý và tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về đất đai; cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai vào nền nếp.
Để triển khai Luật Đất đai, Ngành đã xây dựng, trình Chính phủ và Thủ tướng ban hành nhiều nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị; xây dựng và ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy hệ thống chính sách, pháp luật đất đai đã được điều chỉnh, bổ sung thường xuyên, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết một số vấn đề vướng mắc trong thực tế. Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nhiều, nhưng chưa đồng bộ, thiếu ổn định. Một số văn bản quy phạm pháp luật về đất đai thuộc thẩm quyền địa phương ban hành còn chậm, nhiều văn bản nội dung hướng dẫn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai.
2. Điều tra cơ bản về đất đai
          Năm 1958, Ngành đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc tỷ lệ 1/1.000.000, sơ bộ phân loại đất và phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam. Từ 1961 đến 1964, đã hoàn thành xây dựng bản đồ thổ nhưỡng vùng Đồng bằng và Trung du Bắc bộ tỷ lệ 1/50 000. Đến 1974 đã hoàn thành xây dựng bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh ở phía Bắc. Từ 1976 đến 1985 hoàn thành xây dựng bản đồ thổ nhưỡng cấp tỉnh của các tỉnh phía Nam.
Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, phân hạng đất ở nước ta được bắt đầu từ năm 1968, chủ yếu là phân hạng đất nông nghiệp ở một số tỉnh phía Bắc. Đến năm 1980, Ngành đã tổ chức thực hiện phân hạng đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước. Kết quả của công tác đánh giá, phân hạng đất, phân hạng đất lúa khái quát toàn quốc để phục vụ cho chương trình phát triển lương thực quốc gia, phân hạng đất lúa nước tại các địa phương để phục vụ cho việc tính thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Để có giải pháp bảo vệ tài nguyên đất đai, Ngành đã và đang thực hiện điều tra đánh giá thoái hóa đất, chống xói mòn đất, bảo vệ đất tại 5 vùng là Trung du Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả điều tra đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên đất trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
 Công tác điều tra, thống kê, kiểm kê đất đai được Ngành thực hiện thường xuyên: Điều tra, phân phối đất đai (1964 - 1965); điều tra thống kê đất nông nghiệp (1966 - 1967); điều tra thống kê đất nông nghiệp, đất có khả năng nông nghiệp và đất chuyên dùng khác (năm 1969); tổ chức điều tra đất hoang hóa tại 2.380 xã thuộc các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ (năm 1977); điều tra thống kê tình hình đất đai trong toàn quốc (năm 1977 - 1978). Từ năm 1990 đến nay, công tác thống kê đất đai hàng năm và công tác kiểm kê đất đai (5 năm một lần) được ngành Quản lý đất đai thực hiện có hiệu quả. Ngoài ra, còn tổ chức nhiều cuộc thống kê chuyên đề nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu phục vụ quản lý nhà nước về đất đai. Từ đó đã xây dựng được bộ số liệu về đất đai để phục vụ hoạch định chính sách, lập quy hoạch, kế hoạch của các ngành kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.
Hạn chế chủ yếu của công tác điều tra cơ bản là chậm đổi mới về phương pháp, công nghệ; độ chính xác chưa cao; điều tra chưa tập trung, còn chồng chéo; kết quả điều tra chưa được chỉnh lý cập nhật thường xuyên. Việc xử lý, lưu trữ, thông tin còn bất cập, tài liệu điều tra chưa được khai thác có hiệu quả.
3. Đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Các hoạt động trên có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, được thực hiện nhằm thiết lập cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất của từng chủ sử dụng đất đến từng thửa đất; làm cơ sở để quản lý và sử dụng hiệu quả đất đai, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.
a) Đo đạc lập bản đồ địa chính
Công tác đo đạc lập bản đồ giải thửa được thực hiện từ năm 1958 ở một số địa phương miền Bắc. Sau khi thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (năm 1979), công tác điều tra, đo đạc lập bản đồ giải thửa đã được triển khai trên toàn quốc theo Chỉ thị số 299/TTg. Từ năm 1990, với mục tiêu thành lập tư liệu đo đạc bản đồ địa chính có độ chính xác cao, theo hệ thống chuẩn thống nhất, Ngành đã triển khai đo vẽ bản đồ địa chính trong hệ toạ độ quốc gia. Đến nay cả nước đã thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính với diện tích 23.200.000 ha, đạt 70,3% tổng diện tích tự nhiên. Bản đồ địa chính hiện nay được lập bằng công nghệ số hoặc số hoá bản đồ địa chính lập theo công nghệ cũ.
b) Đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
Do đặc điểm lịch sử, những năm trước đây, hồ sơ đất đai ban đầu chưa đầy đủ, phân tán, thiếu chính xác, không đáp ứng yêu cầu công tác quản lý đất đai. Từ năm 1980, để nắm chắc, quản chặt đất đai, ngành Quản lý đất đai đã triển khai công tác đăng ký đất đai, lập bộ hồ sơ địa chính ban đầu. Đến nay, trên 92% hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất; đã lập sổ mục kê đất cho 85,9% số xã; lập sổ địa chính cho 79,3% số xã. Việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý là một tiến bộ quan trọng trong công tác quản lý đất đai.
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được triển khai từ năm 1987. Từ năm 2009, thực hiện Nghị quyết số 07/2007/QH12 và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ, ngành Quản lý đất đai đã triển khai việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Tính đến tháng 5 năm 2010, cả nước đã cấp được 30.378.713 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân và tổ chức với diện tích 17.685.613 ha, trong đó đã cấp chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 86,0%; diện tích đất lâm nghiệp đạt 72,0%; diện tích đất ở nông thôn đạt 81,0%; diện tích đất ở đô thị đạt 71,8%; diện tích đất chuyên dùng đạt 40,1%.
c) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Với mục tiêu quản lý đến từng thửa đất bằng công nghệ số từ Trung ương đến đơn vị hành chính cấp xã, Ngành đã từng bước chuẩn hóa dữ liệu địa chính và xây dựng dữ liệu số đến từng thửa đất. Hiện nay, hệ thống thông tin đất đai được xây dựng thống nhất và bước đầu đã phát huy tác dụng.
Công tác lưu trữ, thông tin đất đai đang từng bước được hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu cập nhật, tra cứu, sử dụng cho các mục tiêu khác nhau. Công nghệ GIS phát triển đã cung cấp khả năng mới cho việc sử dụng bản đồ địa chính, đó là xây dựng hệ thống thông tin đất đai trên cơ sở các loại bản đồ dạng số, đặc biệt là bản đồ địa chính, giúp cho việc xử lý, quản lý và khai thác thông tin đất đai có hiệu quả.
Tuy nhiên, công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hệ thống thông tin đất đai còn một số hạn chế. Hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất hiện nay còn mang tính thủ công, thực hiện thiếu thống nhất ở các địa phương. Công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất chưa theo kịp tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, do đó hạn chế hiệu quả đầu tư đo vẽ bản đồ. Cơ sở dữ liệu bản đồ, hồ sơ địa chính thiếu về số lượng và kém về chất lượng, không được cập nhật thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai và thị trường bất động sản trong giai đoạn hiện nay. Tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện chậm, không đạt được mục tiêu đề ra đã ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền sử dụng đất của tổ chức và hộ gia đình cá nhân, hạn chế việc giao dịch quyền sử dụng đất trên thị trường bất động sản.
4. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch trước đây chủ yếu là phục vụ phân vùng sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và phục vụ phân bổ dân cư, lao động. Từ năm 1987, Ngành đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất, kết quả là đã xây dựng được hệ thống văn bản, tài liệu hướng dẫn về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khá đầy đủ, khoa học.
Ở cấp quốc gia ngành Quản lý đất đai đã hoàn thành xây dựng, trình Quốc hội phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cả nước giai đoạn 1996 - 2000; quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010. Ở địa phương, đã có 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được Chính phủ xét duyệt; có 90% huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gần 80% đơn vị hành chính cấp xã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010. Hiện nay, Ngành đang tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất cả nước và các cấp giai đoạn 2011 - 2020. 
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để thực hiện việc kế hoạch hoá quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng bộ với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư, tạo bước đi hợp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo nguồn cung về quỹ đất cho thị trường bất động sản; việc công khai quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất cấp xã đã từng bước nâng cao dân chủ cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia, giám sát việc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên đất đai.
Chất lượng lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của các cấp tại địa phương, nhìn chung đã có nhiều tiến bộ nhưng thực sự chưa đạt yêu cầu đề ra. Tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, đặc biệt cấp huyện, xã còn  chậm; nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn những bất cập như chưa phân định rõ cấp độ, nội dung của quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp; chưa đảm bảo nguyên tắc quy hoạch sử dụng đất cấp trên định hướng cho quy hoạch sử dụng đất cấp dưới; chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng; chưa thực sự gắn với mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo an ninh lương thực; trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thiếu sự giám sát chặt chẽ, chưa tuân thủ triệt để nguyên tắc chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải là chỉ tiêu pháp lệnh; việc áp dụng các công nghệ tiên tiến trong lập và giám sát quy hoạch còn nhiều hạn chế.
5. Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất là thực hiện quyền định đoạt của Nhà nước về đất đai nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho các đối tượng khác nhau. Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa ba khu vực là nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ theo từng thời kỳ. Thông qua việc giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất, Nhà nước đảm bảo quyền của người sử dụng đất; người sử dụng đất yên tâm đầu tư trên diện tích đất được giao, được thuê để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Việc giao đất, cho thuê đất làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Chính sách giao đất, cho thuê đất đã và đang tạo ra sức hút đầu tư trong nước và nước ngoài góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Đến nay tổng diện tích đất đã giao, đã cho thuê là 25,16 triệu ha, chiếm 76,4% tổng diện tích tự nhiên của cả nước. Trong đó, diện tích sử dụng theo các nhóm đối tượng: hộ gia đình, cá nhân 12,45 triệu ha, chiếm 49,55%; các tổ chức kinh tế trong nước 5,53 triệu ha, chiếm 21,98%; Ủy ban nhân dân xã 3,71 triệu ha, chiếm 11,28%; tổ chức, cá nhân nước ngoài, liên doanh với nước ngoài 0,31 triệu ha, chiếm 0,12%; các đối tượng khác 3,42 triệu ha, chiếm 13,59%.
Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất còn một số hạn chế: cơ chế thuê đất để thực hiện dự án đầu tư giữa tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân với tổ chức, cá nhân nước ngoài vẫn còn tạo ra sự bất bình đẳng không chỉ về kinh tế mà cả trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vẫn là một trong những vấn đề vướng mắc ở nhiều địa phương, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, chưa tạo được sự đồng thuận giữa người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền địa phương; việc thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện thiếu sự thống nhất giữa các dự án thu hồi đất để sử dụng vào mục đích vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng với các dự án thu hồi đất để sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội; các quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người bị thu hồi đất còn thiếu ổn định và có sự khác nhau giữa các địa phương đã gây nên sự mất công bằng đối với người sử dụng đất.
6. Tài chính đất đai và thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Ngành Quản lý đất đai đã cùng với ngành Tài chính tham mưu cho Chính phủ quy định phương pháp xác định giá đất, khung giá các loại đất, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng giá đất cụ thể tại địa phương và công bố vào ngày 01/01 hàng năm nhằm phục vụ kịp thời cho công tác quản lý đất đai và bồi thường, giải phóng mặt bằng tại địa phương. Hệ thống định giá đất hiện hành có nhiều đổi mới, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, góp phần tăng cường công tác quản lý đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Nguồn thu từ đất chủ yếu hình thành từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các loại thuế và phí. Nguồn thu từ đất liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước khi ban hành Luật Đất đai 2003, nguồn thu từ đất chủ yếu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất và thuế chuyển quyền sử dụng đất. Trong giai đoạn 1994 - 1998, tổng thu từ đất khoảng 2.000 tỷ đồng mỗi năm; tổng thu năm 1999 đạt 3.641 tỷ đồng. Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, tỷ lệ các khoản thu từ đất có rất nhiều thay đổi, nguồn thu chính là tiền sử dụng đất, chiếm khoảng 80% tổng các khoản thu từ đất. Tổng thu từ đất năm 2004 là 17.594 tỷ đồng, trong đó tiền sử dụng đất là 14.202 tỷ đồng (chiếm 80,7%). Hiện nay, hàng năm nguồn thu từ giao đất, cho thuê đất chiếm khoảng 7,25% tổng thu ngân sách; năm 2009 thu khoảng 45.405 tỷ đồng, trong đó tiền sử dụng đất là 36.304 tỷ đồng (chiếm 80,0%).
Việc nghiêm cấm mọi hình thức mua bán, chuyển nhượng đất đai được bãi bỏ từ khi ban hành Luật Đất đai 1993 đã làm thay đổi căn bản thị trường quyền sử dụng đất, từ hoạt động không hợp pháp chuyển sang hoạt động công khai, hợp pháp. Giao dịch đất đai ngày càng sôi động, đặc biệt ở những nơi có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, đưa đất đai thành một nguồn lực tạo vốn mạnh mẽ. Các tổ chức môi giới, định giá, tư vấn pháp lý, tín dụng, sàn giao dịch từng bước được hình thành và hoạt động ngày càng chuyên nghiệp đã hỗ trợ tích cực cho thị trường bất động sản. Thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản khi hoạt động đúng chức năng và vận hành hoàn chỉnh sẽ tạo ra nguồn thu hàng chục nghìn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước.
Những hạn chế trong quản lý tài chính đất đai và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản:
Công tác định giá đất chưa đáp ứng được yêu cầu giá quy định sát giá thị trường; hiện nay giá đất do Nhà nước quy định vẫn chỉ bằng từ 30% tới 60% giá đất chuyển nhượng thực tế. Chưa tổ chức được hệ thống theo dõi giá đất trên thị trường để làm cơ sở định giá đất phù hợp. Công tác thẩm định giá đất còn một số hạn chế, đội ngũ cán bộ định giá đất chưa được đào tạo cơ bản, hoạt động còn mang tính kiêm nhiệm, nghiệp dư.
Sự phát triển của thị trường quyền sử dụng đất đôi khi còn mang tính tự phát, bị các yếu tố đầu cơ chi phối, tạo nên những biến động thị trường một cách cực đoan, đặc biệt tại các khu vực đô thị, khu công nghiệp và những nơi mà sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đang diễn ra mạnh mẽ. Tại khu vực nông thôn, thị trường quyền sử dụng đất chưa phát huy được hết tiềm năng.
Nguồn thu từ đất đai chưa tương xứng với tiềm năng quỹ đất. Chính sách thuế và phí trong lĩnh vực quản lý đất đai chưa điều tiết hợp lý nguồn thu từ đất vào ngân sách nhà nước; chưa trở thành công cụ quản lý thị trường, chống đầu cơ về đất đai, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả.
7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai đã giúp chính quyền địa phương chủ động, kịp thời giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, tranh chấp kéo dài; huy động được nhiều lực lượng trong xã hội cùng tham gia. Các địa phương đã đặt công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý đất đai; một số địa phương đã đổi mới công tác tiếp công dân, kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Qua thanh tra, kiểm tra đã xử lý và chấn chỉnh, ngăn chặn các sai phạm; hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, trong những năm qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai đã hạn chế khiếu kiện vượt cấp, tạo niềm tin trong nhân dân, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội.
Mặc dù tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai tuy có giảm nhưng lại diễn biến phức tạp. Các vi phạm pháp luật về đất đai, đặc biệt tình trạng tham nhũng trong quản lý đất đai vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương nhưng một số vụ việc chưa được thanh tra, phát hiện và xử lý kịp thời.
8. Nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
a) Nghiên cứu khoa học - công nghệ
Trước năm 1983, hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ của Ngành tập trung vào điều tra cơ bản phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp. Trong 10 năm (1983 - 1993) ở cấp Trung ương đã thực hiện 2 chương trình nghiên cứu cấp Bộ, ngành: xây dựng tổng sơ đồ quản lý, sử dụng vốn tài nguyên đất dài hạn (1986 - 1990); sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất đai môi trường (1991 - 1995). Từ năm 1983 đến nay (2009) đã thực hiện 126 đề tài, trong đó có 14 đề tài cấp cơ sở, 110 đề tài cấp bộ, 2 đề độc lập cấp nhà nước, 3 dự án thử nghiệm, 5 dự án phục vụ cho các mục tiêu của ngành Quản lý đất đai. Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học - công nghệ được ứng dụng vào thực tế quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương.
b) Hợp tác quốc tế
Chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế đã được cụ thể hóa trong các chương trình và kế hoạch hành động của Ngành. Trong giai đoạn 1983 - 1993, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã có quan hệ với 17 nước và 3 tổ chức quốc tế. Trong giai đoạn 1994 - 2002, Tổng cục Địa chính đã chủ trì thực hiện 19 chương trình, dự án do Chính phủ Bang Tây Ôxtrâylia, Vương quốc Thụy Điển, Hà Lan, Nhật Bản, Pháp và các tổ chức UNDP, ADB… viện trợ không hoàn lại nhằm tăng cường năng lực quản lý đất đai.
Hiện nay, ngành Quản lý đất đai đã mở rộng quan hệ hợp tác với trên 30 quốc gia và tổ chức quốc tế với 8 chương trình, dự án được thực hiện trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 với phương châm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
c) Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Công tác đào tạo nguồn nhân lực có bước phát triển đáng kể, từ một vài trường trung cấp trước đây, nay đã có hàng chục trường đại học, cao đẳng, trung cấp đào tạo chuyên ngành về quản lý đất đai với chất lượng ngày càng cao.  Trung bình hàng năm đã đào tạo được hàng nghìn cử nhân, kỹ sư và nhiều tiến sỹ, thạc sỹ đáp ứng cho nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của Ngành. Riêng các trường đại học, cao đẳng, trung học trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đào tạo được trên 21.000 cán bộ, hàng nghìn công nhân.
Một số hạn chế của công tác nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực: hoạt động nghiên cứu chủ yếu còn giới hạn trong nghiên cứu ứng dụng, chưa có những nghiên cứu đột phá về lý luận hoặc phương pháp luận; công tác đào tạo, xây dựng được đội ngũ cán bộ nghiên cứu chưa đủ mạnh cả về số lượng và trình độ; chưa tạo được mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, thường xuyên với các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu ngoài ngành Quản lý đất đai. Mặc dù có nhiều chương trình, dự án hợp tác với nước ngoài nhưng do đội ngũ cán bộ chuyên môn còn hạn chế về ngoại ngữ nên việc tiếp thu kiến thức và kinh nghiệm của các đối tác nước ngoài còn hạn chế.
***
Tóm lại, trong quá trình vừa xây dựng vừa phát triển, ngành Quản lý đất đai Việt Nam đã có những đóng góp to lớn, có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới, Ngành đã góp phần đáng kể vào việc ổn định chính trị - xã hội, giải quyết các vấn đề dân sinh, bảo đảm an ninh - quốc phòng, sử dụng đất đai có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực và bảo vệ môi trường, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách.
III. Bối cảnh phát triển Ngành

1. Bối cảnh quốc tế

a) Những vấn đề toàn cầu ảnh hưởng tới tài nguyên đất và công tác quản lý đất đai

Nét nổi bật trong bối cảnh hiện nay là quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra rộng khắp và sâu sắc trên toàn thế giới cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Toàn cầu hóa về kinh tế sẽ kéo theo toàn cầu hóa mọi lĩnh vực tạo nên xu thế chung trong khu vực và quốc tế là hợp tác cùng phát triển. Nhu cầu hợp tác chi phối sự lựa chọn chiến lược phát triển của tất cả các ngành nói chung và chiến lược phát triển của ngành Quản lý đất đai nói riêng.
Hội nhập quốc tế vừa mang lại cơ hội vừa đặt ra nhiều thách thức. Mặc  dù hội nhập quốc tế một cách chủ động, song Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện các công ước quốc tế, các hiệp định song phương và đa phương, đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu trong điều kiện hạn chế về nguồn lực và kinh nghiệm.
Khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, tiếp tục phát triển nhảy vọt, thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức đã tác động nhiều mặt và làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực về đời sống xã hội của tất cả các quốc gia. Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - viễn thông, điều chỉnh các quy định về pháp lý... thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế là điều khó tránh khỏi.
Đất đai bị suy thoái, hủy hoại ngày càng nhanh hơn do nhiều nguyên nhân, đặc biệt do tác động của môi trường, biến đổi khí hậu với nhiều biểu hiện đa dạng như ngập lụt, hoang mạc hóa, xói mòn, sạt lở, rửa trôi, chua hóa, mặn hóa, ô nhiễm, khủng hoảng hệ sinh thái đất… Bên cạnh đó, việc sử dụng đất cũng có tác động không nhỏ tới chất lượng môi trường, làm thay đổi các yếu tố khí hậu. 
An ninh lương thực không chỉ bị đe doạ bởi tình trạng suy thoái nguồn tài nguyên đất mà còn chịu tác động mạnh mẽ của tình trạng gia tăng dân số và thay đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng giảm tỷ trọng diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã và đang diễn ra một cách mạnh mẽ.
b) Một số xu hướng phát triển công tác quản lý đất đai của các nước trên thế giới
Trong công tác quản lý đất đai, xu hướng phát triển của các nước trên thế giới có một số điểm chính sau đây:
Quản lý đất đai dân chủ là tâm điểm viễn cảnh toàn cầu của các hệ thống quản lý đất đai. Sự tham gia của người dân và cộng đồng vào quá trình ra quyết định, sự minh bạch thông tin, sự công bằng quyền lợi giữa các nhóm lợi ích là những tiêu chí cơ bản của quản lý đất đai dân chủ.
Quản lý đất đai điện tử và địa chính không gian ba chiều là xu hướng kỹ thuật - công nghệ ngày càng trở nên phổ biến và là hệ quả tất yếu của tiến bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Xã hội hoá cung cấp dịch vụ công đã được kiểm chứng trong nhiều hệ thống quản lý đất đai. Các cơ quan cung cấp dịch vụ công có thể là tổ chức tư nhân được Nhà nước trao quyền để thực hiện một số chức năng công quyền, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động của mình.
Quản lý đất đai hướng tới xác định và thực thi các chính sách đất đai, ngày càng quan tâm tới thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa người và đất phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
2. Bối cảnh trong nước
a) Các yếu tố trong nước tác động tới sự phát triển của Ngành
 Yếu tố chính sách, pháp luật quyết định tính chất các mối quan hệ đất đai, đồng thời định hướng sự phát triển hệ thống quản lý đất đai. Hạt nhân của các quan hệ đất đai chính là quan hệ sở hữu. Chế độ sở hữu quy định những vấn đề cơ bản trong chức năng, nhiệm vụ, quy trình quản lý của hệ thống quản lý đất đai ở Việt Nam.
Các công nghệ mới dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin trong đo vẽ bản đồ, tổ chức và quản lý dữ liệu đất đai, công nghệ mạng máy tính… đã và đang trở nên phổ biến ở Việt Nam. Ngành Quản lý đất đai đứng trước cơ hội đồng thời cũng là thách thức phải xây dựng một hệ thống quản lý đất đai điện tử. Hệ thống bản đồ và dữ liệu đất đai khác phải được xây dựng dưới dạng số, thiết lập cơ sở dữ liệu địa chính điện tử, xây dựng hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu, triển khai hệ thống đăng ký đất đai điện tử, đăng ký qua mạng…
          Nhu cầu sử dụng đất cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng do phải đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá, phát triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo an ninh lương thực. Ngoài ra, tình trạng dân số tăng và suy thoái tài nguyên đất càng tạo thêm áp lực lớn đối với công tác quản lý đất đai.
b) Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của Ngành
Những thuận lợi, cơ hội
Ngành Quản lý đất đai Việt Nam đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, hệ thống cơ quan quản lý đất đai đã phát triển ở cả bốn cấp hành chính. Đội ngũ cán bộ quản lý đất đai rất đông đảo, được đào tạo có hệ thống và kinh qua nhiều hoạt động, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn.
Hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, công nghệ được phát triển qua nhiều năm và từng bước đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hội nhập thế giới về các mặt kinh tế, công nghệ đã tạo cơ hội cho các ngành nói chung, ngành Quản lý đất đai nói riêng tiếp thu các phương pháp kỹ thuật, công nghệ hiện đại để hội nhập với sự phát triển của các nước trên thế giới.
Đất đai là vấn đề nóng, là tâm điểm chú ý của xã hội. Nhà nước và toàn xã hội đều quan tâm tới chính sách, pháp luật đất đai, tới công tác quản lý đất đai. Nhu cầu về phát triển hệ thống quản lý đất đai hiện đại là động lực để Nhà nước và toàn xã hội tạo điều kiện, cung cấp các nguồn lực để ngành Quản lý đất đai phát triển.
Những khó khăn, thách thức
Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, sự phát triển của ngành Quản lý đất đai cũng phải đối mặt với nhiều thách thức:
Hệ thống tổ chức của ngành được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, đã khẳng định tính phù hợp của cơ cấu tổ chức với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội hiện tại, nhưng chưa khẳng định sự phù hợp với yêu cầu của một hệ thống quản lý đất đai hiện đại, vận hành trong cơ chế thị trường phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Nguồn nhân lực của toàn ngành từ Trung ương đến địa phương hùng hậu về số lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện tại nhưng chưa được đào tạo đầy đủ để đáp ứng yêu cầu vận hành các thiết bị và ứng dụng công nghệ hiện đại. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ không chỉ đòi hỏi nguồn kinh phí lớn mà còn đòi hỏi nhiều thời gian.
Cơ sở hạ tầng trang thiết bị kỹ thuật công nghệ được đầu tư xây dựng, mua sắm từ nhiều nguồn, nhiều chương trình, dự án khác nhau nên mặc dù có đủ tính năng và số lượng nhưng còn thiếu đồng bộ. Sự đồng bộ của trang thiết bị là yêu cầu cơ bản để một hệ thống thiết bị vận hành có hiệu quả; tuy nhiên đây lại là một thách thức lớn bởi vì phải tập trung nguồn kinh phí lớn, đặc biệt vì sự đồng bộ ở nhiều cấp khác nhau.
Cơ chế phân cấp ngân sách hiện nay tạo điều kiện cho các địa phương chủ động phân bổ nguồn lực theo khả năng và nhu cầu phát triển của từng địa phương. Tuy nhiên, đây cũng là một trở ngại cho việc tập trung nguồn vốn đủ lớn để phát triển đồng bộ một ngành, đặc biệt đối với các địa phương có nguồn ngân sách hạn hẹp.
Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai vẫn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành. Đầu cơ đất đai đã trở thành phổ biến với những quy mô khác nhau, gây nên những cơn sốt trên thị trường bất động sản, đẩy giá đất tăng cao một cách bất hợp lý, tăng chi phí đầu tư, giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội.
Phần 2
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH
I. Quan điểm phát triển
Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến năm 2030 được xây dựng trên cơ sở các quan điểm: 
1. Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Nguồn tài nguyên đất đai của nước ta rất hạn chế, phải đối mặt với nhiều nguy cơ suy giảm về diện tích và chất lượng, quỹ đất ngày càng khó đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành; vì vậy, việc quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng phải hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm.
2. Phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững là định hướng chủ đạo và yêu cầu xuyên suốt trong công tác quản lý đất đai. Việc quản lý, sử dụng đất phải vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo quỹ đất sử dụng lâu dài cho các thế hệ mai sau.
3. Ngành Quản lý đất đai phải phát triển theo hướng hiện đại hoá trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng mô hình tổ chức tiến tiến. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ phải là một trong những đột phá chiến lược chính để phát triển ngành Quản lý đất đai. Mô hình tổ chức phải chuyển đổi phù hợp với quy trình quản lý dựa trên ứng dụng công nghệ hiện đại.
4. Nâng tầm đóng góp của đất đai và ngành Quản lý đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng thúc đẩy việc vận dụng các quan hệ kinh tế song song với các quan hệ hành chính trong hoạt động quản lý; xã hội hóa cung cấp dịch vụ công; tăng cường sử dụng các công cụ tài chính nhằm nâng cao nguồn thu ngân sách, đảm bảo công bằng trong hưởng thụ các lợi ích từ đất đai.
5. Con người là trung tâm, là động lực và nhân tố quyết định trong chiến lược phát triển Ngành. Việc đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ ngành Quản lý đất đai vừa có chuyên môn, nghiệp vụ cao vừa có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần, thái độ phục vụ tốt đáp ứng được mọi nhu cầu của phát triển bền vững phải được coi là nhiệm vụ then chốt.
II. Mục tiêu phát triển
1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu phát triển tổng quát của ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2010 - 2020 là hoàn thiện hệ thống quản lý đất đai, đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững. Chuyển trọng tâm hoạt động của Ngành từ quản lý chủ yếu bằng các công cụ hành chính sang phối hợp các công cụ quản lý hành chính và kinh tế, xã hội hoá cung cấp dịch vụ công. Phấn đấu đến năm 2030 đạt trình độ quản lý đất đai hiện đại, ngang với mặt bằng các nước phát triển trong khu vực.
2. Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu phát triển cụ thể của ngành Quản lý đất đai bao gồm nâng cao năng lực của hệ thống cơ quan, đội ngũ cán bộ và hoàn thiện hệ thống các công cụ quản lý, cụ thể như sau:
(1) Hệ thống chính sách, pháp luật đất đai phải là cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, minh bạch nhằm bảo đảm an toàn đối với quyền sử dụng đất, phát huy tối đa tiềm năng đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành và lĩnh vực của một nước công nghiệp phát triển, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội.
(2) Hệ thống quy hoạch sử dụng đất phải được hoàn thiện đảm bảo phân bổ tài nguyên đất đai hợp lý, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và thực sự trở thành công cụ quản lý nhà nước về đất đai.
(3) Các công cụ tài chính được hoàn thiện đủ mạnh để điều tiết hợp lý lợi ích từ đất đai, tạo nguồn thu ổn định và nâng tỷ lệ đóng góp cho ngân sách, đảm bảo công bằng xã hội; định hướng thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản phát triển một cách lành mạnh.
(4) Hệ thống hành chính trong lĩnh vực đất đai được hoàn thiện trên cơ sở tăng cường năng lực cơ quan và đội ngũ cán bộ, cải cách hành chính, thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo giải quyết các thủ tục về đất đai một cách đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện cho người sử dụng đất; tạo cơ chế cho các tổ chức ngoài hệ thống cơ quan công quyền cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý đất đai. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai; nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật đất đai.
(5) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Ngành được phát triển có đầy đủ trang bị thiết bị với công nghệ hiện đại. Đẩy mạnh điều tra cơ bản, xây dựng hạ tầng thông tin chuyên ngành đầy đủ, đảm bảo đủ thông tin, tư liệu cần thiết để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai.
III. Định hướng phát triển đến năm 2030
Định hướng phát triển đến năm 2030 là xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại của một nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển, đạt trình độ ngang mặt bằng của các nước phát triển trong khu vực.
Công tác quản lý đất đai phải được ổn định về hệ thống pháp luật, hệ thống tổ chức, cơ chế giám sát và giải pháp tổ chức thực hiện đảm bảo điều chỉnh được mọi quan hệ đất đai trong nền kinh tế công nghiệp phát triển vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục xây dựng các luật chuyên ngành về đất đai, tạo cơ sở để xây dựng Bộ Luật đất đai.
Tự động hóa, tin học hoá toàn bộ hệ thống quản lý đất đai trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong xây dựng, quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống tư liệu, hồ sơ đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai và các công cụ quản lý khác trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai.
Nâng cao tính dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch, có sự tham gia tích cực của người dân trong xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật, trong quy trình xây dựng và ban hành các quyết định và trong việc kiểm tra, giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật đất đai.
IV. Nhiệm vụ phát triển giai đoạn 2010 - 2020
Các nhiệm vụ phát triển của ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2010 - 2020 tập trung vào 12 điểm chính sau đây:
1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai nhằm giải quyết triệt để một số vấn đề còn bất cập về cơ chế, chính sách đất đai trong các lĩnh vực: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; tài chính đất đai; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai; thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về đất đai; chính sách đất đai đối với đất nông nghiệp, đất giao cho hộ gia đình;
- Xây dựng và ban hành Luật Đất đai mới thay thế Luật Đất đai 2003, các văn bản hướng dẫn thi hành luật; xây dựng và ban hành một số luật chuyên ngành trong lĩnh vực đất đai như: Luật về định giá đất, Luật về quyền sử dụng đất… làm cơ sở để xây dựng Bộ Luật Đất đai (sau năm 2020);
- Tổ chức đánh giá thường xuyên tác động của các chính sách và quy định của pháp luật đất đai đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, pháp luật đã ban hành; kịp thời điều chỉnh các quy định không phù hợp.
2. Điều tra cơ bản trong lĩnh vực đất đai, đánh giá tiềm năng và hiệu quả sử dụng đất phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
- Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu thống kê đất đai, đáp ứng yêu cầu về số liệu cho công tác quản lý nhà nước về đất đai và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh;
- Thực hiện tốt thống kê đất đai hàng năm, kiểm kê đất đai định kỳ 05 năm và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; tổ chức các cuộc điều tra, thống kê chuyên đề theo yêu cầu thông tin phục vụ quản lý;
- Hoàn thiện trình tự, nội dung, phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên đất;
- Thực hiện điều tra cơ bản định kỳ trên diện rộng để đánh giá đúng thực trạng đất đai về số lượng, chất lượng, hiện trạng sử dụng, tiềm năng, hiệu quả kinh tế, xã hội của việc sử dụng tài nguyên đất đai phục vụ công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đánh giá kinh tế đất và xây dựng chiến lược, định hướng phát triển kinh tế - xã hội;
- Tổ chức điều tra đánh giá các mô hình quản lý, sử dụng đất để đề xuất các giải pháp sử dụng đất hiệu quả, bền vững; đánh giá hiệu quả đầu tư các dự án phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai; tình hình thực hiện cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
- Điều tra, khảo sát tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, các nông lâm trường quốc doanh và các tổ chức sự nghiệp công; tình hình giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài; xác định ranh giới đất trồng lúa nước đến từng thửa đất cần bảo vệ nghiêm ngặt trong chiến lược bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
3. Đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất
- Hoàn thành cơ bản việc đo đạc, lập bản đồ địa chính dạng số đối với toàn bộ diện tích các loại đất đã sử dụng; trong đó ưu tiên khu vực đô thị và vùng ven đô, khu dân cư nông thôn và các khu vực khác có mức độ giao dịch đất đai lớn; thực hiện chỉnh lý biến động thường xuyên đối với hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính, đảm bảo phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất;
- Kiện toàn hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành một cấp trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tiến tới xây dựng hệ thống cơ quan đăng ký bất động sản theo ngành dọc có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thực hiện tất cả các thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo cơ chế “một cửa”;
- Cơ bản hoàn thành việc đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận ban đầu, xây dựng hồ sơ địa chính cho toàn bộ các thửa đất đã sử dụng;
- Triển khai thực hiện việc đăng ký biến động đất đai, chỉnh lý thường xuyên hồ sơ địa chính; đồng thời tổ chức chỉnh lý biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất cho phần lớn các địa phương để khắc phục những hạn chế, bất cập của việc chỉnh lý biến động trong nhiều năm qua;
- Xây dựng và triển khai vận hành hệ thống đăng ký điện tử để tự động hóa quy trình đăng ký, cấp giấy chứng nhận ở phần lớn các địa phương; thực hiện thí điểm việc đăng ký thế chấp qua mạng Internet ở một số địa phương;
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính dạng số cho trên 50% số xã, trong đó có ít nhất 10 tỉnh hoàn thành;
- Xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển, đồng thời tăng cường quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất để hỗ trợ cho hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đang còn nhiều khó khăn hiện nay.
4. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gắn liền với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
- Hoàn thiện nội dung, phương pháp, quy trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, lồng ghép với các nhiệm vụ phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo vệ môi trường và đảm bảo quốc phòng - an ninh; phương pháp dự báo và xác định nhu cầu sử dụng đất, làm cơ sở xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất;
- Hoàn thành công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định quỹ đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, mở rộng đô thị trên quan điểm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Đảm bảo 100% đơn vị hành chính các cấp thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật;
- Thực hiện quy hoạch khai thác sử dụng đất xây dựng các công trình ngầm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
- Kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo từng năm và theo các giai đoạn. Đánh giá tác động kinh tế, xã hội, môi trường của việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý tài chính đất đai
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính về đất đai; nghiên cứu đề xuất các giải pháp sử dụng các công cụ tài chính trong quản lý đất đai nhằm ngăn chặn tình trạng lãng phí, sử dụng kém hiệu quả, tham nhũng, đầu cơ trong lĩnh vực đất đai;
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật phục vụ công tác định giá đất và xây dựng hệ thống hồ sơ, cơ sở dữ liệu vùng giá trị đất;
- Xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý, quy trình kỹ thuật, hệ thống hồ sơ, cơ sở dữ liệu định giá đất;
- Kiện toàn và phát triển hệ thống cơ quan định giá đất của Nhà nước và hệ thống tổ chức cung cấp dịch vụ định giá đất ngoài công lập.
6. Quản lý và phát triển quỹ đất, quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
- Phát triển hệ thống Tổ chức phát triển quỹ đất tại tất cả các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương;
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính, cơ chế huy động vốn đảm bảo cho các Tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động có hiệu quả;
- Đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ cho các Tổ chức phát triển quỹ đất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;
- Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, trụ sở làm việc đầy đủ cho các Tổ chức phát triển quỹ đất;
- Thực hiện các dự án phát triển quỹ đất đảm bảo đủ quỹ đất để thực hiện giao đất, cho thuê đất qua hình thức đấu giá.
7. Phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách pháp luật đất đai
- Xây dựng và triển khai các mô hình phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đất đai, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành; tổ chức biên soạn hệ thống tài liệu, giáo trình, sách chuyên khảo về các nội dung quản lý, sử dụng đất; tăng cường phổ biến thông tin, kiến thức quản lý đất đai, chính sách, pháp luật đất đai thông qua hệ thống giáo dục, đào tạo, hệ thống báo chí phát thanh, truyền hình;
- Phối hợp với các bộ, ngành khác cùng tham gia tổ chức tuyên truyền phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về chính sách pháp luật đất đai;
- Thiết lập hệ thống cơ quan chuyên trách tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách, pháp luật đất đai.
8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chính sách pháp luật đất đai
- Tăng cường công tác thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đảm bảo việc quản lý, sử dụng đất đúng quy hoạch và pháp luật;
- Thường xuyên kiểm tra, phát hiện và chấn chỉnh các thiếu sót, sai phạm về chuyên môn trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai;
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra;
- Nâng cao chất lượng công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, góp phần ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội;
- Đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra đủ về số lượng, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
9. Xây dựng hệ thống dữ liệu và hệ thống thông tin lưu trữ về đất đai
- Xây dựng hệ thống dữ liệu không gian nền địa chính các cấp hành chính để cập nhật và chỉnh lý các dữ liệu chuyên môn về hiện trạng sử dụng đất các cấp hành chính theo định kỳ kiểm kê đất đai, cung cấp tài liệu cho các hoạt động điều tra cơ bản liên quan tới đất đai;
- Xây dựng cơ sở dữ liệu vùng giá trị đất phục vụ công tác định giá đất, dự báo biến động về giá đất;
- Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đăng ký giao dịch đất đai trực tuyến;
- Xây dựng và hoàn thiện chính sách thương mại hóa thông tin đất đai làm cơ sở thực hiện tự chủ tài chính đối với các cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin đất đai;
- Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu đất đai đồng bộ từ Trung ương tới địa phương; tích hợp cơ sở dữ liệu các địa phương vào cơ sở dữ liệu của Tổng cục Quản lý đất đai.
10. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật và định mức sử dụng đất đai
- Thực hiện chuyển đổi các quy trình, quy phạm hiện hành thành các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật. Xây dựng và hoàn thiện định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở cho công tác xây dựng, thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ chuyên môn và đề tài nghiên cứu khoa học;
- Xây dựng và hoàn thiện định mức sử dụng đất làm cơ sở cho việc xác định nhu cầu sử dụng đất khi lập, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án phát triển kinh tế - xã hội;
- Hoàn thiện các quy định về hệ thống thông tin đất đai, chuẩn dữ liệu địa chính; các quy định về dịch vụ cung cấp thông tin đất đai.
11. Nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế
a) Nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ
          - Nghiên cứu hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất;
- Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp luận trong các lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, phát triển thị trường bất động sản, phát triển quỹ đất, đăng ký quyền sử dụng đất tạo hướng phát triển dài hạn có tính chiến lược; khắc phục tình trạng lúng túng, thiếu tầm chiến lược trong từng lĩnh vực;
- Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong công tác điều tra, đánh giá tài nguyên đất; đo đạc lập bản đồ chuyên ngành quản lý đất đai; xây dựng hệ thống thông tin đất đai; tin học hóa và tự động hóa trong các lĩnh vực chuyên môn quản lý đất đai;
- Nghiên cứu hiện đại hoá công nghệ, kỹ thuật, nâng cao năng lực thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học - công nghệ trong các lĩnh vực quản lý đất đai;
- Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện phương pháp, tổ chức đánh giá thường xuyên tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đất của cả nước, theo các vùng và từng địa phương;
- Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.
b) Hợp tác quốc tế
- Duy trì và mở rộng quan hệ quốc tế, đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;
- Tìm kiếm nguồn đầu tư và hỗ trợ kỹ thuật của các nước và các tổ chức quốc tế để hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về đất đai, phương pháp quản lý và sử dụng đất bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường đối thoại về chính sách, pháp luật và thông tin, tuyên truyền về lĩnh vực đất đai;
- Duy trì và đẩy mạnh hợp tác cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực quản lý đất đai.
12. Hoàn thiện hệ thống tổ chức, đào tạo phát triển nguồn nhân lực
- Kiện toàn hệ thống tổ chức ngành quản lý đất đai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng hệ thống các cơ quan, đơn vị cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý đất đai theo cơ chế ngành dọc trong phạm vi các đơn vị hành chính cấp tỉnh để đảm bảo sự vận hành đồng bộ, chuyên nghiệp và hiệu quả. Xây dựng hệ thống cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, tổ chức phát triển quỹ đất tại các địa phương;
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức ngành Quản lý đất đai làm cơ sở cho việc định biên, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phù hợp với tiêu chuẩn chức danh và trình độ đào tạo;
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực về quản lý đất đai tại Trung ương nhằm đảm bảo nguồn nhân lực đầy đủ về số lượng và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực định giá đất đáp ứng yêu cầu công tác định giá đất của Nhà nước và xã hội hóa hoạt động định giá đất; phát triển nguồn nhân lực cho các tổ chức phát triển quỹ đất của các địa phương;
- Tăng cường năng lực đào tạo các bậc học của các cơ sở đào tạo thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường để đảm bảo đào tạo cán bộ Quản lý đất đai hệ chính quy, tại chức ở trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ chất lượng cao kết hợp với các trường đại học của các địa phương, chuẩn hoá chương trình đào tạo kết hợp nhiều loại hình đào tạo để phổ cập đại học cho cán bộ quản lý đất đai;
- Phối hợp với các trường đại học để thiết lập và chuẩn hoá hệ thống đào tạo đại học và trên đại học ngành quản lý đất đai: phấn đấu 80 - 90% cán bộ quản lý đất đai ở Trung ương có trình độ đại học và trên đại học; 40 - 50% cán bộ quản lý đất đai ở cơ sở có trình độ cao đẳng, đại học;
- Kế hoạch hoá chương trình đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ cho các cán bộ đương nhiệm trong ngành, trong đó trọng tâm là chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý kinh tế, tin học, công nghệ mới, phổ cập tiếng Anh cho cán bộ quản lý, cán bộ khoa học ở Tổng cục và các Sở Tài nguyên và Môi trường, nâng cao trình độ quản lý đất đai cho các cán bộ của Ngành ở cấp huyện và cấp xã.
Phần 3
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM
I. Giải pháp thực hiện
Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 và định hướng đến 2030 phải được thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm. Việc thực hiện Chiến lược vừa mang tính cấp bách vừa có tính lâu dài, góp phần quan trọng vào việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện thành công và đảm bảo tính khả thi của Chiến lược cần thực hiện các giải pháp chính sau:
1. Giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức
- Tuyên truyền phổ biến Chiến lược đến tất cả các cấp, các ngành, các địa phương dưới mọi hình thức để tạo sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện Chiến lược;
- Lấy việc hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ trong Chiến lược làm các chỉ tiêu phấn đấu thi đua hàng năm của Ngành và của địa phương.
2. Giải pháp tài chính và đầu tư
Đổi mới cơ chế tài chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và đầu tư thích đáng cho việc thực hiện Chiến lược:
- Phải xác định rõ đầu tư cho quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên đất là đầu tư cho phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cả trước mắt và lâu dài;
- Nhà nước bảo đảm các nguồn lực đầu tư cần thiết bằng nguồn vốn từ ngân sách của Trung ương và địa phương, có sự hỗ trợ của Trung ương cho các tỉnh, thành phố có khó khăn về ngân sách địa phương;
- Có chính sách huy động nhiều nguồn vốn khác nhau như sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khoa học, đóng góp của doanh nghiệp và cộng đồng; hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn hỗ trợ khác… để tăng cường đầu tư cho công tác quản lý và sử dụng đất, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và thực hiện các chương trình, dự án phát triển Ngành;
- Ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ, dự án có tính chất bản lề, then chốt để thúc đẩy thực hiện các nội dung, nhiệm vụ khác cùng phát triển.
3. Giải pháp khoa học và công nghệ
- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai;
- Thường xuyên cập nhật và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực quản lý đất đai;
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học pháp lý nhằm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai.
4. Giải pháp cải cách hành chính
- Cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo định hướng xã hội hóa cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý đất đai;
- Xây dựng và phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ công của các tổ chức ngoài công lập, đặc biệt trong các lĩnh vực điều tra cơ bản, định giá đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai.
5. Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế
- Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế; tiếp tục duy trì và mở rộng các mối quan hệ hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực quản lý đất đai nhằm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, tiếp thu kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ;
- Tìm kiếm các dự án có tài trợ quốc tế, các nguồn vốn đầu tư để thực hiện các chương trình, dự án phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam;
- Khai thác lợi thế so sánh để triển khai các hoạt động cung cấp hoặc tiếp nhận các loại dịch vụ có liên quan.
6. Giải pháp tập trung đầu tư theo các chương trình trọng điểm
Các nhiệm vụ Chiến lược cần được thực hiện theo các chương trình, dự án trọng điểm, dưới sự quản lý của các Ban chỉ đạo thực hiện chương trình, dự án. Tránh đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm không mang lại hiệu quả.
7. Giải pháp tăng cường năng lực hệ thống các cơ quan quản lý đất đai
a) Kiện toàn, nâng cao năng lực hệ thống các cơ quan quản lý đất đai và tăng cường pháp chế:
- Củng cố tổ chức Tổng cục Quản lý đất đai và các cơ quan đơn vị trực thuộc;
- Thành lập các Chi cục Quản lý đất đai của các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương;
- Củng cố và tăng cường năng lực quản lý đất đai của các Phòng Tài nguyên và Môi trường, các cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn.
b) Phân cấp mạnh, triệt để về thẩm quyền quyết định trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai đến từng cấp. Nêu cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức, triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai.
c) Tăng cường phối hợp hoạt động trong ngành và với các ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan; chú trọng sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác quản lý đất đai; lồng ghép các mục tiêu, nội dung của Chiến lược vào các chương trình, dự án, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các ngành và các địa phương.
d) Phát triển nguồn nhân lực và tăng cường đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của ngành Quản lý đất đai:
- Kết hợp đào tạo đại trà với đào tạo đội ngũ chuyên gia trình độ cao, đầu đàn trong từng lĩnh vực quản lý đất đai;
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng năng lực lãnh đạo, quản lý, hoạt động thực tiễn, khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến, trình độ ngoại ngữ để mở rộng hợp tác quốc tế.
e) Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ quan quản lý đất đai, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và mục tiêu hiện đại hóa của Ngành.
II. Các chương trình trọng điểm
1. Chương trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, chiến lược, quy hoạch về quản lý, sử dụng đất đai
Mục tiêu: Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai, góp phần hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật cho thị trường bất động sản. Hoàn thiện chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai Việt Nam. Xây dựng hệ thống định mức sử dụng đất và hệ thống địch mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất và xây dựng đơn giá, dự toán các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý đất đai.
Nhiệm vụ:
(1) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai, góp phần hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật cho thị trường bất động sản.
(2) Xây dựng và hoàn thiện chính sách tài chính đất đai.
(3) Xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp gắn với phát triển bền vững và mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh - quốc phòng.
(4) Xây dựng hệ thống định mức sử dụng đất, định mức kinh tế - kỹ thuật phục vụ công tác quản lý đất đai.
2. Chương trình xây dựng, quản lý phát triển hạ tầng quản lý đất đai
Mục tiêu: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất đến từng loại đất và đối tượng sử dụng, đánh giá đúng tình hình quản lý, sử dụng đất, tình hình biến động đất đai, tình hình thực hiện đo đạc bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính. Xác định ranh giới và cắm mốc ranh giới, đo đạc lập bản đồ chi tiết của các nông, lâm trường quốc doanh, cấp giấy chứng nhận, đo đạc diện tích trả về địa phương làm cơ sở cho việc thực hiện giao đất. Hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính dạng số, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phục vụ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, sử dụng đất.
Nhiệm vụ:
(1) Thống kê, kiểm kê đất đai; đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản gắn liền với đất.
(2) Điều tra cơ bản phục vụ công tác dự báo biến động trong quản lý, sử dụng đất gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
(3) Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu đất đai (thống nhất từ Trung ương đến địa phương) đồng bộ với cơ sở dữ liệu Quốc gia, thực hiện chủ trương thương mại hóa số liệu điều tra cơ bản.
3. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực đất đai
Mục tiêu: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất và đề xuất giải pháp ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu. Lồng ghép nhiệm vụ phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong quy hoạch sử dụng đất. Tăng cường vai trò tham gia của cộng đồng về việc sử dụng đất ứng phó trong bối cảnh ứng phó biến đổi khí hậu.
Nhiệm vụ:
(1) Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất và đề xuất hướng sử dụng đất thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng phát triển bền vững.
(2) Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với các vùng chịu tác động và đề xuất giải pháp ứng phó.
(3) Tăng cường thể chế, pháp luật về đất đai, năng lực tổ chức, nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.
(4) Hiện đại hóa công nghệ nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
4. Chương trình tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra nhằm đảm bảo quản lý sử dụng bền vững đất đai
Mục tiêu: Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra về công tác quản lý và sử dụng đất, nhằm bảo đảm quản lý sử dụng bền vững đất đai.
Nhiệm vụ:
(1) Kiểm tra thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất về giao đất, cho thuê đất, khu công nghiệp, đô thị, sân golf, đất lúa; điều kiện hoạt động, đăng ký hoạt động tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
(2) Kiểm tra chỉ đạo thực hiện dự án xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai.
5. Chương trình đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường năng lực hệ thống ngành Quản lý đất đai
Mục tiêu: Xây dựng hệ thống tổ chức, tăng cường năng lực (về nhân lực, trình độ công nghệ và cơ sở vật chất) của ngành Quản lý đất đai từ Trung ương đến các địa phương hiện đại và phù hợp để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức dịch vụ công.
Nhiệm vụ:
(1) Hoàn thiện, đổi mới tổ chức và phương thức vận hành hệ thống bộ máy quản lý đất đai.
(2) Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai.
(3) Xây dựng và triển khai kế hoạch phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đất đai ở các cấp.
(4) Thực hiện các chương trình, đề tài, dự án thử nghiệm nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực quản lý đất đai.
(5) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế song phương, đa phương trong quản lý, sử dụng đất đai.
Dự tính nhu cầu vốn:    
Tổng nhu cầu vốn thực hiện các chương trình, dự án và nhiệm vụ của Chiến lược là: 29.932,36 tỷ đồng (trong đó vốn đã đầu tư đến năm 2010: 9.104,29 tỷ đồng). Tổng vốn cần đầu tư giai đoạn 2010 - 2020 là: 20.828,07 tỷ đồng, phân theo giai đoạn cụ thể:
          - Nhu cầu vốn từ 2011 đến 2015 là: 9.673,07 tỷ đồng;
- Nhu cầu vốn từ 2016 đến 2020 là: 11.155,00 tỷ đồng.
 (Chi tiết nhu cầu và nguồn vốn tại Biểu phụ lục 01; Biểu phụ lục 02).
III. Tổ chức thực hiện
1. Phân công nhiệm vụ và cơ chế phối hợp
(1) Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai trên phạm vi cả nước:
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung của Chiến lược; hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng và nhiệm vụ được giao xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phù hợp với mục tiêu, nội dung, giải pháp của Chiến lược này;
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan chức năng có liên quan thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Chiến lược; định kỳ hàng năm tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm; 05 năm tiến hành sơ kết; 10 năm tiến hành tổng kết việc thực hiện Chiến lược; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu, nội dung Chiến lược trong trường hợp cần thiết.
(2) Tổng cục Quản lý đất đai có trách nhiệm giúp Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức thực hiện Chiến lược trên phạm vi cả nước và tại các địa phương.
(3) Các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính có trách nhiệm cân đối ngân sách trung ương và địa phương, bố trí vốn để thực hiện Chiến lược trên phạm vi cả nước và từng địa phương.
(4) Các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm thực hiện các chương trình, dự án, các mục tiêu, nội dung, giải pháp của Chiến lược có liên quan đến Bộ, ngành và địa phương mình.
2.  Giám sát và đánh giá
Nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực thực hiện Chiến lược phát triển ngành Quản lý đất đai cần thực hiện tốt công tác giám sát và đánh giá, từ đó cung cấp thông tin và các ý kiến phản hồi cho các nhà hoạch định chính sách để điều chỉnh kế hoạch và có giải  pháp khắc phục kịp thời.
a) Công tác giám sát
Công tác giám sát được thực hiện thường xuyên với các nội dung sau:
*) Giám sát tiến độ thực hiện Chiến lược
- Giám sát việc huy động các nguồn lực và tài chính ở các cấp;
- Giám sát kết quả thực hiện các mục tiêu.
*) Đánh giá các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện Chiến lược
- Phát hiện và đánh giá những yếu tố bên ngoài phát sinh và có ảnh hưởng tới việc thực hiện Chiến lược;
- Phát hiện và đánh giá những vấn đề phát sinh do việc thực hiện Chiến lược có tác động ngoài dự kiến tới kinh tế, xã hội và môi trường;
- Đề xuất những điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ hoặc kế hoạch thực hiện một cách kịp thời.
b) Đánh giá
Nội dung đánh giá tập trung vào việc phân tích, đánh giá những tác động chủ yếu của việc thực hiện Chiến lược tới kinh tế, xã hội và môi trường:
- Đánh giá những thay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan đến các mục tiêu của Chiến lược;
- Định lượng đóng góp của ngành Quản lý đất đai đối với kinh tế quốc dân và kinh tế địa phương; đối với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường;
- Đánh giá mức độ đóng góp và mức độ phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện Chiến lược.
Việc đánh giá được thực hiện thường xuyên và định kỳ và kết quả đánh giá được sử dụng để xây dựng và điều chỉnh mục tiêu, nội dung và kế hoạch thực hiện Chiến lược.

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
____________________________________
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HÀ NỘI - 11/2010
 
 
 
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
____________________________________
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HÀ NỘI - 11/2010
 
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Phần 1 - Thực trạng và bối cảnh phát triển Ngành                          
I. Quá trình hình thành và phát triển Ngành
         1. Hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ
         2. Chức năng và nhiệm vụ
II. Thực trạng các hoạt động của Ngành
         1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai
         2. Điều tra cơ bản về đất đai
         3. Đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hệ thống thông tin đất đai
         4. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
         5. Giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
         6. Tài chính đất đai và thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
         7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
      8. Nghiên cứu khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
III. Bối cảnh phát triển Ngành

         1. Bối cảnh quốc tế

         2. Bối cảnh trong nước
Phần 2 - Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển Ngành 
I. Quan điểm phát triển  
II. Mục tiêu phát triển
         1. Mục tiêu tổng quát
         2. Mục tiêu cụ thể
III. Định hướng phát triển đến năm 2030
IV. Nhiệm vụ phát triển giai đoạn 2010 - 2020
Phần 3 - Giải pháp thực hiện và các chương trình trọng điểm
I. Giải pháp thực hiện
II. Các chương trình trọng điểm
III. Tổ chức thực hiện
Biểu phụ lục
1
2
2
2
4
5
5
6
 
 
7
9
10
 
10
11
 
12
13
13
14
16
16
17
17
17
18
18
24
24
26
28

Biểu phụ lục 01: TỔNG HỢP NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT Nhiệm vụ, dự án Tổng dự toán Đã đầu tư đến 2010 Giai đoạn 2011 - 2015 Gia đoạn
2016 - 2020
Tổng số Chi theo năm
2011 2012 2013 2014 2015
  Tổng số (Tỷ đồng) 29.932,36 9.104,29 9.673,07 1.655,91 1.580,51 1.684,98 2.249,15 2.502,52 11.155,00
I  Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, chiến lược, quy hoạch về quản lý, sử dụng đất đai 1.334,46 5,46 749,00 176,00 28,00 15,00 15,00 515,00 580,00
1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai, góp phần hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật cho thị trường bất động sản 98,46 3,46 45,00 15,00 15,00 5,00 5,00 5,00 50,00
2 Xây dựng và hoàn thiện chính sách tài chính đất đai và định giá đất. 54,00 0,00 34,00 11,00 8,00 5,00 5,00 5,00 20,00
3 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch các cấp 1.141,00 1,00 640,00 140,00 0,00 0,00 0,00 500,00 500,00
4 Xây dựng, hệ thống định mức sử dụng đất, định mức kinh tế - xã hội phục vụ công tác quản lý đất đai 41,00 1,00 30,00 10,00 5,00 5,00 5,00 5,00 10,00
II Xây dựng, quản lý phát triển hạ tầng quản lý đất đai 27.795,00 9.095,93 8.474,07 1.341,91 1.434,51 1.597,98 2.173,15 1.926,52 10.225,00
1 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai; đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản gắn liền với đất 27.133,28 9.093,68 8.039,60 1.304,44 1.352,51 1.492,98 2.074,15 1.815,52 10.000,00
2 Điều tra cơ bản phục vụ công tác dự báo biến động trong quản lý, sử dụng đất gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 586,72 2,25 384,47 22,47 67,00 95,00 94,00 106,00 200,00
3 Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu đất đai đồng bộ với cơ sở dữ liệu Quốc gia, thực hiện chủ trương thương mại hóa số liệu điều tra cơ bản 75,00 0,00 50,00 15,00 15,00 10,00 5,00 5,00 25,00
III Triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực quản lý đất đai 154,40 2,40 132,00 43,00 33,00 22,00 17,00 17,00 20,00
1 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất và đề xuất hướng sử dụng đất thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng phát triển bền vững 42,40 2,40 40,00 15,00 10,00 5,00 5,00 5,00 0,00
2 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với các vùng chịu tác động và đề xuất giải pháp ứng phó 30,00 0,00 30,00 10,00 5,00 5,00 5,00 5,00 0,00
3 Tăng cường thể chế, pháp luật về đất đai, năng lực tổ chức, nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu 12,00 0,00 12,00 3,00 3,00 2,00 2,00 2,00 0,00
4 Hiện đại hóa công nghệ nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biến dâng. 70,00 0,00 50,00 15,00 15,00 10,00 5,00 5,00 20,00
IV Thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai 75,00 0,00 25,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 50,00
V Đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường năng lực hệ thống ngành quản lý đất đai 573,50 0,50 293,00 90,00 80,00 45,00 39,00 39,00 280,00
1 Hoàn thiện, đổi mới tổ chức và phương thức vận hành 46,50 0,50 26,00 10,00 10,00 2,00 2,00 2,00 20,00
2 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai 107,00 0,00 72,00 25,00 25,00 8,00 7,00 7,00 35,00
2.1 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ tại Trung ương 42,00 0,00 27,00 10,00 10,00 3,00 2,00 2,00 15,00
2.2 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ tại  địa phương 65,00 0,00 45,00 15,00 15,00 5,00 5,00 5,00 20,00
3 Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đất đai ở các cấp 75,00 0,00 25,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 50,00
4 Thực hiện các chương trình, đề tài, dự án thử nghiệm nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực quản lý đất đai 135,00 0,00 60,00 20,00 20,00 10,00 5,00 5,00 75,00
5 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế song phương, đa phương trong quản lý, sử dụng đất đai 210,00 0,00 110,00 30,00 20,00 20,00 20,00 20,00 100,00
 
 

 
Biểu phụ lục 02:   TỔNG HỢP ĐẦU TƯ THEO NGUỒN VỐN
         
STT Nhiệm vụ, dự án Tổng dự toán Phân chia theo các nguồn vốn
Ngân sách
Nhà nước
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
  Tổng số (tỷ đồng) 29,932,36 18,431,66 7,168,77 4,331,92
  Tỷ lệ (%) so với tổng số vốn đầu tư thực hiện chiến lược 100 62 24 14
I  Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, chiến lược, quy hoạch về quản lý, sử dụng đất đai (tỷ đồng) 1,334,46 1,201,01 66,72 66,72
  Tỷ lệ (%) so với tổng số vốn của chương trình, nhiệm vụ 100 90 5 5
II Xây dựng, quản lý phát triển hạ tầng quản lý đất đai (tỷ đồng) 27,795,00 16,677,00 6,948,75 4,169,25
  Tỷ lệ (%) so với tổng số vốn của chương trình, nhiệm vụ 100 60 25 15
III Triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực quản lý đất đai (tỷ đồng) 154,40 77,20 38,60 38,60
  Tỷ lệ (%) so với tổng số vốn của chương trình, nhiệm vụ 100 50 25 25
IV Thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai (tỷ đồng) 75,00 75,00    
  Tỷ lệ (%) so với tổng số vốn của chương trình, nhiệm vụ 100 100 0 0
V Đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường năng lực hệ thống ngành quản lý đất đai (tỷ đồng) 573,50 401,45 114,70 57,35
  Tỷ lệ (%) so với tổng số vốn của chương trình, nhiệm vụ 100 70 20 10