1. Sự ra đời của Tổng cục Quản lý ruộng đất - đánh dấu bước ngoặt về vị thế của ngành và sự hoàn thiện cơ bản về yêu cầu, nội dung và phạm vi quản lý Nhà nước đối với đất đai

             Quản lý Nhà nước đối với đất đai - một nhiệm vụ không thể thiếu trong việc quản lý, điều hành đất nước của bất kỳ một nhà nước nào tồn tại trong xã hội.

              Nhà nước "Dân chủ cộng hòa Việt Nam", ngay sau khi tuyên bố độc lập, tại Sắc lệnh số 41/SL ngày 3/10/1945 của Chủ tịch lâm thời Chính phủ dân chủ công hòa Việt Nam về bãi bỏ tất cả các công sở và các cơ quan trước thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương đã thiết lập ở Hà Nội, ở Sài Gòn, ở Đà Lạt và các nơi khác thuộc địa hạt Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ nước Việt Nam; chuyển giao toàn bộ tài sản, tài liệu, khí cụ... và những nhân viên tòng sự tại các cơ quan nói trên sang các Bộ của Chính phủ lâm thời Việt Nam; Nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai đã được định rõ và do Bộ Tài chính đảm nhiệm với cơ quan chuyên trách giúp việc là " Sở Trước bạ, văn tự, quản thư điền thổ".

               Trải theo thời gian, nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu khác nhau của từng giai đoạn Cách mạng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai cũng từng bước được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa theo trọng tâm, trọng điểm ứng với yêu cầu của mỗi thời kỳ, các tổ chức chuyên trách cũng được hình thành tương ứng: Nha Trước bạ công sản và điền thổ thuộc Bộ Tài chính (1946), Nha Địa chính thuộc Bộ Canh nông(1948), Nha Công sản - Trực thu - Địa chính thuộc Bộ Tài chính (1950); Khi cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn chuẩn bị tổng phản công, để đảm bảo lương thực cho chiến trường, toàn bộ cán bộ địa chính trong bộ máy Công sản - Trực thu - Địa chính được huy động phục vụ việc thu thuế nông nghiệp (bằng thóc) theo quy định tại Sắc lệnh số 40/SL ngày 15/7/1951. Ngành Địa chính bắt đầu ngừng hoạt động công tác của mình từ ngày đó.

               Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, cải cách ruộng đất thành công; cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành cơ bản ở các tỉnh phía Bắc, nhưng một trong những vấn đề tồn tại ở nông thôn sau sửa sai cải cách ruộng đất là tình hình diện tích ruộng đất không ổn định. Chính phủ đã chủ trương tiến hành công tác địa chính nhằm nắm tương đối chính xác diện tích ruộng đất và vẽ bản đồ ruộng đất để cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kế hoạch hóa và hợp tác hóa nông nghiệp, tính thuế nông nghiệp, xây dựng đô thị... Do đó ngày 3/7/1958 Chính phủ đã có chỉ thị 334-TTg cho tái lập lại ngành Địa chính từ Trung ương đến xã:

               - Ở Trung ương: thành lập Sở Địa chính đặt trong Bộ Tài chính.

               - Ở tỉnh: thành lập một bộ phận đặt trong văn phòng Ủy ban hành chính tỉnh để phụ trách công tác địa chính, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính tỉnh; phụ trách là một cán bộ trình độ trưởng hoặc phó trưởng ty.

               - Ở huyện: có một cán bộ chuyên trách giúp Ủy ban hành chính huyện chỉ đạo công tác địa chính.

               - Ở xã: đào tạo một số người để làm công tác tu chỉnh bản đồ và đo đạc ruộng đất, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính xã. Sau khi đã tu chỉnh bản đồ và đo đạc xong, việc quản lý ruộng đất do Ủy ban hành chính xã phụ trách.

               Năm 1960, hợp tác hóa nông nghiệp ở các tỉnh phía Bắc đã hoàn thành 90% diện tích đất canh tác đã được tập thể hóa. Sở hữu tập thể đối với ruộng đất được ra đời và phát triển nhanh chóng. Vấn đề nổi lên lúc này là phải củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (trong đó chủ yếu là quạn hệ ruộng đất) và giúp đỡ sản xuất nông nghiệp tập thể phát triển. Một trong những giải pháp quan trọng trong thời kỳ này là cần thiết phải gắn liền quản lý ruộng đất với quản lý sản xuất nông nghiệp, giúp cho các hợp tác xã, các nông trường nắm chắc được ruộng đất để tổ chức sử dụng ruộng đất hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao. Để phù hợp với tình hình và yêu cầu mới, ngày 9/12/1960 Hội đồng Chính phủ đã quyết định: chuyển ngành Địa chính từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp phụ trách và đổi tên thành ngành quản lý ruộng đất. Theo 2 Nghị định  số 70/CP và 71/CP ngày 9/12/1960, Ngành quản lý ruộng đất có nhiệm vụ giúp Bộ Nông nghiệp quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp với những nội dung cụ thể:

               - Lập bản đồ địa bạ về ruộng đất, thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ cho phù hợp với sự thay đổi về hình thể ruộng đất về quyền sở hữu, sử dụng ruộng đất, về tình hình canh tác và tình hình cải tạo chất đất.

               - Thống kê diện tích, phân loại đất.

              - Nghiên cứu xây dựng các luật lệ, thể lệ về quản lý ruộng đất trong nông nghiệp và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các luật lệ, thể lệ đó.

               Để đảm bảo cho ngành quản lý ruộng đất thực hiện được nhiệm vụ, Nghị định còn quy định rõ:

               - Việc quản lý ruộng đất do cơ quan quản lý ruộng đất các cấp phụ trách.

               - Ở những nơi tiến hành công tác quản lý ruộng đất, tất cả các cơ quan Nhà nước và nhân dân mỗi khi cần thay đổi về hình thể ruộng đất, về quyền sở hữu, về cách sử dụng ruộng đất đều phải làm thủ tục khai báo theo quy định của Bộ Nông nghiệp.

               Trong thời kỳ từ 1960 đến 1979, ngành Quản lý ruộng đất từ Trung ương đến địa phương vẫn trực thuộc hệ thống tổ chức của Bộ Nông nghiệp, nhưng tổ chức cụ thể của ngành đã nhiều lần thay đổi: năm 1966 từ Vụ Quản lý ruộng đất được tách ra: Cục Điều tra, đo đạc bản đồ đất và Vụ Quản lý ruộng đất. Năm 1968 thực hiện Nghị định số 24/CP ngày 9/12/1968 của Hội đồng Chính phủ quy định tổ chức bộ máy Bộ Nông nghiệp, hai Cục và Vụ nói trên được sát nhập thành Vụ Quản lý ruộng đất và quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp. Năm 1972 thực hiện Nghị định số 234/CP ngày 18/12/1971 của Hội đồng Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ và bộ máy của Ủy ban nông nghiệp Trung ương. Vụ Quản lý ruộng đất và quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp đã được tách thành 3 cơ quan: Vụ Quản lý ruộng đất, Ban phân vùng và quy hoạch nông nghiệp và Viện Thổ nhưỡng nông hóa, trong đó Vụ Quản lý ruộng đất có chức năng giúp Ủy ban nông nghiệp Trung ương tổ chức và chỉ đạo việc quản lý đất đai nông nghiệp, đưa việc quản lý, sử dụng, bồi dưỡng, cải tạo đất đai vào nề nếp chế độ, không ngừng nâng cao năng suất và màu mỡ đất đai, với những nhiệm vụ cụ thể:

               - Giúp Ủy ban nông nghiệp Trung ương trong việc nghiên cứu tổ chức và chế độ quản lý ruộng đất từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm quản lý chặt chẽ ruộng đất trên các mặt: diện tích, màu mỡ và sử dụng ruộng đất theo đúng phương hướng, nhiệm vụ và chính sách chế độ của Nhà nước.

               - Tổ chức theo dõi, nắm biến động về đất đai, phát hiện kịp thời những việc làm có hại đến diện tích, màu mỡ đất đai và trái với phương hướng sử dụng đất, có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

               - Nghiên cứu những chính sách, chế độ quản lý đất nhằm thúc đẩy việc sử dụng hợp lý đất đai, tăng cường bồi dưỡng cải tạo đất. đồng thời ngăn chặn những hành động có hại đến diện tích, năng suất và màu mỡ của đất.

               - Hướng dẫn việc tổ chức quản lý ruộng đất ở cơ sở, chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về quản lý ruộng đất nhằm đưa việc quản lý ruộng đất từ Trung ương đến cơ sở vào nề nếp, chế độ.

               - Tham gia việc phân vùng quy hoạch nông nghiệp, nhất là trong việc phân bổ và sử dụng đất đai, quản lý chặt chẽ việc sử dụng đất đai theo quy hoạch được duyệt.

               - Giúp Ủy ban nông nghiệp Trung ương trong việc xét duyệt yêu cầu của các địa phương, các đơn vị cơ sở về sử dụng đất đai, xét các vụ tranh chấp về đất đai, hoặc vi phạm về chế độ, nguyên tắc sử dụng ruộng đất.

               - Tổ chức việc kiểm tra và trực tiếp tổ chức việc kiểm tra định kỳ và bất thường việc quản lý đất đai, sử dụng đất của các địa phương và các đơn vị cơ sở, phát hiện kịp thời những sơ hở trong việc quản lý, những vi phạm về chế độ, nguyên tắc sử dụng đất, đề ra biện pháp sửa chữa.

               - Đúc rút kinh nghiệm về tổ chức, chuyên môn, về nghiệp vụ quản lý ruộng đất, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ quản lý ruộng đất, đảm bảo yêu cầu đưa nhanh việc quản lý ruộng đất vào chế độ chặt chẽ.

               Cùng với những thay đổi về tổ chức, nhiệm vụ được giao ngày càng nặng, càng đi sâu vào nghiệp vụ quản lý Nhà nước đối với đất đai với đầy đủ các tính chất pháp chế hành chính, kinh tế, khoa học kỹ thuật và vận động quần chúng. Tuy nhiên về tổ chức lực lượng cụ thể, đặc biệt là tổ chức lực lượng tại các địa phương chưa được tăng cường một cách tương ứng và không ổn định, những cơ sở pháp lý của việc quản lý Nhà nước đối với đất đai cũng chưa được chú ý xây dựng đã hạn chế hoạt động của ngành trong việc thực hiện chức năng quản lý của mình theo đúng những yêu cầu nhiệm vụ đã được xác định tại Nghị định số 70/CP, 71/CP ngày 9/12/1960 và đặc biệt là những yêu cầu về tăng cường công tác quản lý ruộng đất tại Nghị quyết số 125-CP ngày 28/6/1971 của Hội đồng Chính phủ. Tình trạng chưa coi trọng đúng mức, thậm chí buông lỏng quản lý ruộng đất trong nhiều năm đã phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như: lấn chiếm đất đai, đất đai bị bỏ hoang hóa, sử dụng đất không đúng mục đích, màu mỡ đất không được bảo vệ.... làm thiệt hại nghiêm trọng đến diện tích và chất lượng ruộng đất, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và quan hệ ruộng đất xã hội chủ nghĩa trong nông thôn. Mặt khác những nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai đã được xác định trong các văn bản pháp quy của Nhà nước, cũng như những thành tựu đã đạt được trong thực thi những nhiệm vụ đó trong những năm đã qua cũng chỉ giới hạn trên phạm vi ruộng đất nông nghiệp.

                Từ nhận thức rõ về những tồn tại, xuất phát từ yêu cầu sử dụng hợp lý và có hiệu quả toàn bộ vốn tài nguyên đất đai; Căn cứ vào Nghị quyết số 548-NQ/QHK6 ngày 24/5/1979 của Ủy ban thường vụ quốc hội , ngày 9/11/1979 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 404-CP thành lập hệ thống Tổng cục Quản lý ruộng đất. Chiểu theo Nghị định:

               - Kể từ ngày 9/11/1979 hệ thống tổ chức ngành quản lý ruộng đất được tách khỏi hệ thống tổ chức của Bộ Nông nghiệp để trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.

               - Cơ quan chuyên trách quản lý ruộng đất được thành lập tại 4 cấp:

               + Ở Trung ương: Tổng cục Quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Chính phủ

               + Cấp tỉnh: Ban quản lý ruộng đất trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh

               + Cấp huyện: Phòng quản lý ruộng đất đặt trong Văn phòng Ủy ban nhân dân

               + Cấp xã: Do Ủy ban nhân dân xã phụ trách, có phân công cán bộ chuyên trách giúp việc.

               - Ngành Quản lý ruộng đất có trách nhiệm giúp Hội đồng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thống nhất quản lý Nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả cao đối với các loại đất, thông qua việc tổ chức thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý Nhà nước đối với ruộng đất:

               + Điều tra, khảo sát và phân bổ các loại đất

               + Quy hoạch sử dụng đất

               + Quy định các thể lệ về quản lý và sử dụng đất

               + Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất

               + Thống kê, đăng ký đất

               + Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về ruộng đất

               + Giải quyết tranh chấp về ruộng đất.

               Với vị thế và trách nhiệm mới của toàn ngành, những nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu của Tổng cục Quản lý ruộng đất - cơ quan đầu não của ngành quản lý ruộng đất đã được xác định:

               - Điều tra đo đạc, lập và giữ bản đồ địa chính.

               - Tham gia xếp loại ruộng đất, phân bổ đất, xây dựng, xét duyệt các quy hoạch sử dụng ruộng đất.

               - Lập sổ địa chính, giữ sổ và chịu trách nhiệm đăng ký vào sổ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

               - Lưu giữ tài liệu về ruộng đất, cung cấp những tài liệu cần thiết và giúp việc giải quyết những tranh chấp về ruộng đất, giúp việc xử lý các vụ vi phạm pháp luật về ruộng đất.

               - Hướng dẫn thi hành pháp luật về ngành quản lý ruộng đất.

               - Thanh tra việc chấp hành pháp luật về quản lý ruộng đất.

               - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành quản lý ruộng đất.

               - Giúp Chính phủ nắm tình hình ruộng đất, kiến nghị các biện pháp cần thiết để đảm bảo việc quản lý ruộng đất theo đúng pháp luật.

               - Nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ ban hành hoặc Tổng cục ban hành trong phạm vi quyền hạn được giao các chính sách, chế độ, thể lệ về quản lý ruộng đất; tổ chức chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ đó.

               - Để thi hành pháp luật và các Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị của Hội đồng Chính phủ, trong phạm vi quyền hạn của mình, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý ruộng đất ra những Thông tư, Quyết định và kiểm tra các ngành, các cấp thi hành những Thông tư, Quyết định đó.

               - Quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, tài sản, tài chính của Tổng cục theo chế độ chung của Nhà nước.

2. Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất - Những kết quả đạt được và tác dụng, hiệu quả trong quản lý Nhà nước về đất đai.

2.1. Sự ra đời của Chị thị, những nội dung, yêu cầu và nguyên tắc tổ chức thực hiện:

                Xuất phát từ những tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong nhiều năm; Cùng với Nghị định 404-CP ngày 9/11/1979 của Hội đồng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất nói riêng và của ngành Quản lý ruộng đất nói chung. Và Quyết định 201-CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Để kịp thời xây dựng được những tài liệu cơ bản phục vụ yêu cầu quản lý thống nhất đất đai trong cả nước, đồng thời phục vụ công tác quy hoạch của các ngành kinh tế, cũng như quyết định các chính sách quản lý cho công tác kế hoạch hóa, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc và đẩy mạnh công tác cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp ở Miền Nam... Ngày 10/11/1980 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 299/TTg về công tác Đo đạc, phân hạng và Đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước.

                Việc Hội đồng Chính phủ cùng một lúc ban hành liên tiếp 3 văn bản quy định về tổ chức, về thống nhất quản lý đất đai trên toàn lãnh thổ và xác định rõ những công việc cụ thể phải làm đầu tiên đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho toàn ngành quản lý ruộng đất trong việc giúp Nhà nước năm chắc, quản chặt tài nguyên đất đai của cả nước. Nó cũng chứng tỏ rằng những việc cụ thể cần làm đã nêu trong Chỉ thị là hết sức cần thiết và cấp bách, là tiến thêm một bước điều tra cơ bản đất đai, tạo điều kiện để tiếp cận với thực trạng ruộng đất về mặt số lượng, chất lượng và thực trạng pháp lý trong quản lý và sử dụng:

               - Đo đạc là để lập bản đồ địa chính, nắm chắc được diện tích các loại đất trong từng đơn vị hành chính, từng đơn vị sản xuất, từng tổ chức cá nhân sử dụng đất; tài liệu này cần có trước để làm tốt việc quản lý và sử dụng đất đai.

               - Phân hạng đất giúp cho việc quy hoạch và sử dụng đất, đánh giá đúng chất lượng để có cơ sở đề xuất những biện pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất, phát huy hết năng lực tiềm tàng của đất đai.

               - Đăng ký ruộng đất là để làm cơ sở pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất và từ đó thực hiện các biện pháp và chế độ quản lý đất đai.

               Kết quả cuối cùng của công tác này xây dựng được hệ thống tài liệu địa chính để nắm chắc, quản chặt mọi loại đất và mọi người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục công nhận cho sử dụng từ sau khi Hiến pháp (1980) công bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân; đồng thời cũng qua việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ mà Chỉ thị yêu cầu, tổ chức và lực lượng của ngành quản lý ruộng đất từng bước được xây dựng, trưởng thành và hoàn chỉnh.

               Thực hiện chỉ thị 229-TTg còn nhằm xác định cụ thể:

               - Quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý ruộng đất trong quá trình thực hiện 7 chức năng quản lý Nhà nước đối với toàn bộ đất đai trong cả nước và ở từng địa phương.

               - Quyền và nghĩa vụ của từng người sử dụng đất sau khi đã được Nhà nước giao quyền trực tiếp sử dụng đất.

               - Chế độ trách nhiệm về các vi phạm pháp luật đối với cả hai đối tượng: người quản lý và người sử dụng trong quá trình quản lý và sử dụng đất.

               Trong quá trình tổ chức thực hiện Chỉ thị cần nắm vững: đo đạc phải gắn liền với tổ chức kê khai đăng ký sử dụng đất; làm xã nào, huyện nào phải hoàn thành dứt điểm huyện đó, hoàn thành các nội dung chuyên môn xã nào phải đồng thời xây dựng tổ chức quản lý ruộng đất của xã đó để đảm nhiệm ngay việc đăng ký biến động theo đúng quy định tại Quyết định 201-CP, Nghị định 404-CP và các Thông tư hướng dẫn của Tổng cục Quản lý ruộng đất. Công tác phân hạng đất là việc làm mới, phức tạp, cần được nghiên cứu kỹ để xác định cho được các yếu tố phân hạng thích hợp với từng vùng, từng địa phương khác nhau. Và nhất thiết phải tuân theo quy trình đã hướng dẫn và nhất thiết phải do đội ngũ chuyên trách của tỉnh hoặc huyện trực tiếp làm. Công việc phân hạng đất có thể thực hiện tách rời với 2 nội dung: đo đạc và đăng ký thống kê ruộng đất và có thể được đi sau một bước.

2.2. Kết quả 5 năm thực hiện chỉ thị 299-TTg

               Chỉ thị 299-TTg về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước ra ngày 10/11/1980, được tập trung triển khai thực hiện trong thời gian 5 năm, từ giữa năm 1981 đến tháng 7 năm 1986.

               Được thực hiện trong hoàn cảnh đất nước có khó khăn nhiều mặt: tiền vốn, vật tư kỹ thuật cần thiết cho cuộc điều tra bị hạn chế, ngành quản lý ruộng đất mới được hình thành; trong quá trình thực hiện Nhà nước có nhiều việc đột xuất, lại phải tiến hành cùng một lúc 3 nội dung công việc, với những yêu cầu phức tạp: đo đạc lập bản đồ địa chính, phân hạng đất lúa và đăng ký thống kê đất đến từng thửa đất và từng chủ sử dụng đất.... Tính đến tháng 7/1986 cả nước đã có:

               - 14/40 tỉnh, thành cả nước hoàn thành hoặc hoàn thành cơ bản cả 3 nội dung: đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất; Hai vùng trọng điểm lúa của cả nước: Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng Bắc Bộ đã cơ bản hoàn thành.

               - Nếu tính theo từng nội dung, chúng ta đã có: 47% số tỉnh đã hoàn thành cơ bản công tác đo đạc; 37% số tỉnh đã hoàn thành phân hạng đất lúa cấp huyện. Và 40% số tỉnh hoàn thành đăng ký thống kê đất đai.

               - 83% số xã với 81% diện tích đã kê khai đăng ký đã được thành lập hồ sơ ruộng đất và sổ địa chính Nhà nước cấp xã, trong đó có tới 66% số xã hồ sơ đã được duyệt. Những kết quả trên đây được thể hiện cụ thể như sau:

2.2.1. Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính

               Với yêu cầu: phải tiến hành đo đạc, chỉnh lý để xây dựng bản đồ từng thửa tỷ lệ lớn 1/1.000-1/5.000 trước hết đổi với đất nông nghiệp, tiến hành khoanh bao trên bản đồ tỷ lệ trung bình đối với các loại đất khác; vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông: tư liệu để chỉnh lý vẽ bản đồ giải thửa là ảnh chụp hàng không tỷ lệ 1/5.000-1/10.000. Vùng đồng bằng Bắc bộ và trên diện tích đất lúa của các vùng khác. Chủ yếu dựa vào bản đồ giải thửa đã được đo vẽ từ những năm trước để chỉnh lý hoặc đo mới; Kết quả triển khai đo đạc tính đến 30/4/1986:

               - 77% tổng số xã trong toàn quốc với 49% diện tích tự nhiên đã được đo đạc lập bản đồ. Hai vùng trọng điểm lúa: Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng Bắc Bộ đã cơ bản đo xong.

               -  14 tỉnh đã đo xong toàn bộ diện tích tự nhiên (Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú, Hải Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Cửu Long, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang).

               - 5 tỉnh đã căn bản đo đạc xong 70% (Thanh Hóa, Lâm Đồng, Minh Hải, Hà Nội, Đồng Nai).

               - Tuy nhiên vẫn còn 7 tỉnh mới đo được dưới 15% diện tích tự nhiên, trong đó một số tỉnh miền núi có nhiều khó khăn mới chỉ có dưới 15% diện tích tự nhiên được đo đạc (Sơn La, Thuận Hải, Gia Lai, KonTum).

               Mặc dù tỷ lệ diện tích tự nhiên đã được đo đạc còn thấp, nhưng đất nông nghiệp đã cơ bản đo đạc xong (75%) với diện tích 5.100.000 ha. 24/40 tỉnh đã cơ bản đo xong đất lâm nghiệp.

2.2.2. Điều tra phân hạng đất lúa cấp huyện

               Phân hạng đất được giới hạn trong đất trồng lúa trên địa bàn huyện.

               - Đến tháng 6/1986, cả nước đã có 223 huyện phân hạng xong đất lúa cấp huyện, 65% diện tích đất lúa toàn quốc với diện tích trên 2.800.000 ha đã được phân hạng.

               - 13 tỉnh trong 2 vùng trọng điểm lúa đã hoàn thành phân hạng đất lúa cấp huyện (Hà Nam Ninh, Thái Bình, Hải Hưng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Cửu Long, Hậu Giang, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang). Một số tỉnh miền núi tuy diện tích đất lúa ít, phân tán, nhưng đã chú ý tập trung phân hạng cho những huyện trọng điểm (Hà Tuyên, Bắc Thái, Quảng Ninh, ĐakLak...). Tuy nhiên còn một số huyện diện tích đất lúa nhiều nhưng triển khai phân hạng đất còn chậm (Nghệ Tĩnh, Minh Hải, Vĩnh Phú, Nghĩa Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thuận Hải, Đồng Nai, Hà Bắc, Hà Nội).

               Các xã đã phân hạng đều có bản đồ hạng đất tỷ lệ  1/1.000-1/5.000. Huyện có bản đồ hạng đất tỷ lệ 1/25.000.

               Sau khi phân hạng đất lúa xong ở huyện một số tỉnh đã tiến hành tổng hợp kết quả phân hạng của các huyện để phân cấp đất lúa toàn tỉnh (Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Củ Long, Hải Hưng....)

               Trên cơ sở phân cấp đất lúa các tỉnh, kết hợp nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế toàn vùng, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã xây dựng xong bản đồ phân nhóm đất cho 2 vùng: Đồng bằng Sông Cửu Long (tỷ lệ 1/250.000) và Đồng bằng Bắc Bộ (tỷ lệ 1/200.000).

2.2.3. Đăng ký thống kê đất

               Thực hiện theo yêu cầu của Chị thị 299-TTg lần đầu tiên trong sự nghiệp quản lý Nhà nước về đất đai, công tác đăng ký - thống kê đất được tiến hành đồng loạt trên diện rộng trên toàn bộ đất đai, đối với tất cả các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có sử dụng đất nhằm nắm đầy đủ và chính xác về diện tích, loại ruộng đất, hạng đất và chủ sử dụng đất của từng khu đất, từng thửa ruộng, trên cơ sở đó mà lập hệ thống hồ sơ ruộng đất và sổ địa chính Nhà nước ở từng cấp, làm cơ sở khoa học và pháp lý thực hiện quản lý Nhà nước đối với toàn bộ đất đai.

               Đăng ký - thống kê đất đai là việc làm phức tạp, với khối lượng lớn. Tiến hành kê khai đăng ký đất phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi địa phương, vào trình độ nhận thức, sự hiểu biết về pháp luật, đất đai, mức độ giác ngộ chính trị của mỗi một cấp ủy Đảng và chính quyền, đặc biệt là cấp xã (nơi trực tiếp tổ chức kê khai đăng ký), của từng chủ sử dụng đất.

               Để hướng dẫn các địa phương thực hiện kê khai đăng ký đất, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành quy định về thủ tục đăng ký thống kê trong cả nước.(Quyết định số 56-ĐKTK ngày 5/11/1981).

               Trực tiếp tổ chức thực hiện kê khai đăng ký đất là Hội đồng đăng ký ruộng đất xã. Trong quá trình thực hiện, các Hội đồng này được thành lập và giải tán khi hoàn thành việc kê khai đăng ký. Đến tháng 6/1986 cả nước đã có:

               - 58% số xã trong cả nước tổ chức xong việc kê khai đăng ký đất với 32% diện tích tự nhiên, tương ứng với 66% diện tích đã đo đạc được kê khai đăng ký (10.600.000ha);

               -  Hai vùng: Đồng bằng Bắc Bộ (60%) và Đồng bằng Sông Cửu Long (90%) có tỷ lệ diện tích đã được kê khai đăng ký cao nhất;

               - 16/40 tỉnh đã hoàn thành căn bản việc kê khai đăng ký, lập hồ sơ đất đai đến từng chủ sử dụng đất, lập sổ địa chính cho từng đơn vị cấp xã. Tuy nhiên còn 12 tỉnh triển khai công tác này quá chậm, diện tích được kê khai đạt dưới 15% (Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thuận Hải....).

               Công tác kê khai đăng ký đất lần này cho phép bước đầu đánh giá được thực trạng về tình hình quản lý, sử dụng đất ở từng cơ sở, qua đó phát hiện hàng vạn vụ vi phạm pháp luật đất đai để có biện pháp giải quyết kịp thời góp phần đưa dần việc quản lý sử dụng đất vào trật tự, nề nếp.

               Qua đăng ký đất, quyền sử dụng hợp pháp của hàng triệu chủ sử dụng đất trên từng thửa đất đã được xác lập, đồng thời cũng đã xác định rõ những trường hợp sử dụng đất chưa hợp pháp cần được xử lý.

               Thông qua việc kê khai đăng ký đất, nhận thức về chính sách pháp luật đất đai của mọi người đã dần dần được nâng cao, có thêm cơ sở để tiến hành việc quản lý đất đai được chặt chẽ.

2.2.4. Hiện trạng sử dụng vốn tài nguyên đất đến năm 1985 - kết quả tổng hợp của thực hiện Chỉ thị 299-TTg

               Năm 1980 trên cơ sở kết quả điều tra và thống kê tình hình cơ bản về đất đai theo Quyết định số 169-CP của Hội đồng Chính phủ - Liên bộ: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Tổng cục Thống kê, Cục đo đạc và bản đồ Nhà nước đã công bố số liệu hiện trạng sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước đến năm 1980. Bộ số liệu này được đánh giá là tương đối đầy đủ và tin cậy hơn các tài liệu số liệu về đất đã tổng hợp được trước đó. Đồng thời cũng phục vụ kịp thời yêu cầu sử dụng của các ngành các cấp. Tuy nhiên với số liệu đã tổng hợp được vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với đất đai.

               Năm 1985, trên cơ sở những kết quả đã thực hiện được về đo đạc, lập bản đồ địa chính, phân hạng đất và đăng ký - thống kê ruộng đất theo Chị thị 299-TTg. Tổng cục Quản lý ruộng đất đã thống kê tổng hợp và công bố số liệu hiện trạng sử dụng đất đến năm 1985.

               Bộ số liệu này đã được tổng hợp trên cơ sở: 77% tổng số xã với 49% diện tích tự nhiên toàn quốc đã được đo đạc lập bản đồ trong quá trình thực hiện Chỉ thị 299-TTg. Trong đó: đất nông nghiệp và đất chuyên dùng đã được tổng hợp trên cơ sở 55% số huyện sử dụng số liệu của 299-TTg, 26% số huyện sử dụng kết hợp số liệu " 299-TTg" và số liệu " 169-CP", 12% số huyện sử dụng kết hợp số liệu "299-TTg" và số liệu của các ngành khác; Chỉ có 7% số huyện còn phải sử dụng số liệu "169-CP". Bộ số liệu năm 1985 cũng còn được tổng hợp trên cơ sở 58% số xã và 32% diện tích tự nhiên trong cả nước đã hoàn thành việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, xác lập rõ ràng quyền sử dụng hợp pháp của mỗi chủ sử dụng đất.

               Thông qua Bộ số liệu hiện trạng sử dụng đất, cả nước cũng như từng tỉnh, huyện, xã đã xác định rõ quỹ đất của đơn vị mình, thấy rõ tình hình và cơ cấu sử dụng đất hiện tại vào các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng, quỹ đất dự trữ còn có thể khai thác sử dụng, chiều hướng biến động của đất đai qua 5 năm sử dụng(1981 - 1985).... Những ưu, khuyết điểm trong quá trình quản lý sử dụng đất, qua đó xác định rõ những giải pháp tốt nhất nhằm sử dụng hợp lý vốn tài nguyên đất của mỗi địa phương cũng như cả nước. Hiện trạng sử dụng đất năm 1985 cùng còn là tài liệu quy phục vụ kịp thời những yêu cầu riêng của nhiều ngành.

               Kết quả tổng hợp về hiện trạng sử dụng đất năm 1985 đã được thể hiện cụ thể bằng bản đồ, bộ số liệu và tài liệu thuyết minh cho từng đơn vị cấp huyện, cấp tỉnh và cả nước. Với cơ sở về nguồn gốc, về số liệu, tài liệu đã được tổng hợp" Hiện trạng sử dụng đất năm 1985" thực sự là một bộ tài liệu có độ tin cậy cao, có giá trị phục vụ cho nhiều yêu cầu của nhiều ngành, nhiều cấp trong những năm 1986-1990 và nhiều năm về sau.

2.3. Những vấn đề rút ra từ kết quả thực hiện chỉ thị 299-TTg và hiệu quả của kết quả này trong quản lý Nhà nước về đất đai

               Cuộc điều tra thống kê theo chỉ thị 299-TTg chưa kết thúc (tính đến thời điểm tổng kết - 7/1986) tiến độ thực hiện mặc dù chưa đạt so với yêu cầu của Chỉ thị, song chúng ta đã tập trung giải quyết cơ bản đồng thời cả 3 nội dung: đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ở các vùng trọng điểm.

               Cuộc điều tra đã được tiến hành một cách công phu, chặt chẽ, trên cơ sở quy trình, quy phạm thống nhất, do vậy chất lượng và độ tin cậy của kết quả cũng đạt cao nhất so với tất cả các cuộc điều tra đất đai trước đây. Những kết quả bước đầu thu được đã thực sự mang lại cho từng địa phương những tác dụng và hiệu quả rõ rệt:

               - Trước hết, mỗi cơ sở (hợp tác xã, xã, huyện, tỉnh) có được bộ số liệu mới về ruộng đất chính xác hơn cả về mặt diện tích, loại ruộng đất, hạng đất, chủ sử dụng đất của từng thửa đất và đã được xác nhận quyền sử dụng hợp pháp đất của từng chủ. Tại thời điểm những năm 80(1986) bộ số liệu này chính là cơ sở tốt nhất để mỗi cơ sở rà lại những chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, tính toán, cân đối và định lại sản lượng khoán, các chỉ tiêu giao nộp sản phẩm và nghĩa vụ thuế nông nghiệp, đảm bảo công bằng và hợp lý. Đồng thời còn phục vụ tích cực cho việc thực hiện những mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước: sử dụng hợp lý đất đai và lao động của cả nước cũng như trong từng cơ sở (điều chỉnh ruộng đất, phân bố lao động và dân cư, xây dựng các vùng kinh tế mới, xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế...)

               - Mỗi cơ sở, mỗi địa phương tự đánh giá về tình hình chấp hành các chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất trong những năm qua, xác định rõ những ưu khuyết điểm và tìm ra các biện pháp khắc phục. Đồng thời cũng qua đây Đảng và Nhà nước thấy rõ những mặt chưa đầy đủ, chưa hợp lý của các chính sách pháp luật đất đai, thấy rõ những mặt yếu trong tổ chức quản lý... qua đó mà kịp thời có những chủ trương biện pháp bổ sung, hoàn chỉnh cho phù hợp.

              - Thực thi Chị thị 299-TTg lần đầu tiên từng cơ sở sản xuất, các cấp chính quyền xây dựng được một bộ hồ sơ ruộng đất: mỗi xã, huyện, tỉnh hoàn thành thực hiện Chỉ thị 299-TTg đều có đầy đủ bản đồ địa chính, số đăng ký ruộng đất (5a,5b), sổ mục kê đất, phiếu thửa... Đó là căn cứ khoa học và pháp lý phục vụ kịp thời yêu cầu thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất theo Quyết định số 201-CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ. Đồng thời đó cũng là những tài liệu, số liệu rất cơ bản, tiếp tục phục vụ nhiều yêu cầu của các ngành, của UBND các cấp trong việc quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý vốn tài nguyên đất, hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về đất đai trong những năm kế tiếp và hiện nay. Và đặc biệt phục vụ rất đắc lực cho việc triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm của ngành quản lý đất đai hiện nay như: đo đạc, lập bản đồ địa chính có tọa độ, đăng ký đất đai lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...

               Thực hiện tốt Chỉ thị 299-TTg nhận thức của mọi ngành, mọi cấp từ Đảng viên đến quần chúng về vai trò vị trí của đất đai, về quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người sử dụng đất... được nâng cao, bước đầu nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc quản lý, sử dụng đất trên cơ sở quyền sử dụng hợp pháp quyền sử dụng ruộng đất đã được xác lập; đồng thời còn góp phần tăng cường đoàn kết trong nông thôn, củng cố lòng tin đối với Đảng và chính quyền các cấp.

              - Ngoài những tác dụng thiết thực trên đây, tổ chức thực hiện Chỉ thị 299-TTg đã góp phần từng bước xây dựng và củng cố tổ chức ngành quản lý ruộng đất, cán bộ ngành các cấp được tăng cường cả về số lượng và trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật. Đông đảo lực lượng cán bộ đã được tập huấn, đào tạo và tôi luyện trưởng thành trong quá trình tổ chức thực hiện Chỉ thị 299-TTg chính là lực lượng nòng cốt của đội ngũ cán bộ ngành từ xã đến Trung ương trong suốt những năm kế tiếp và hiện nay rất nhiều đồng chí đang trực tiếp đảm nhiệm những nhiệm vụ trọng trách của ngành tại các cấp đều bắt nguồn từ đội ngũ cán bộ đó. Cũng qua thực hiện Chị thị này, ngành Quản lý ruộng đất đã trải nghiệm, đúc rút nhiều kinh nghiệm về chuyên môn: khẳng định sự gắn kết đồng thời thực hiện nhiệm vụ đo đạc, lập bản đồ và kê khai đăng ký đất đai trong một chu trình thống nhất để lập hồ sơ đất đai ban đầu, khẳng định những nội dung về thông tin, hệ thống biểu mẫu, sổ sách... cần thiết, cách thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm của người sử dụng đất, của cơ quan chuyên môn, của UBND các cấp... trong việc lập hồ sơ đất đai đến từng chủ sử dụng đất tại mỗi cơ sở. Đó chính là những kinh nghiệm quý báu làm cơ sở cho việc nghiên cứu, hoàn thiện và xây dựng các văn bản hướng dẫn, những quy trình, quy phạm kỹ thuật ngày càng có chất lượng về lĩnh vực đo đạc, đăng ký lập hồ sơ đất đai trong những năm tiếp theo và đến hiện nay.

               Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị 299-TTg của Thủ tướng Chính phủ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của UBND các cấp với sự cố gắng không mệt mỏi của toàn ngành quản lý ruộng đất từ Trung ương đến cơ sở, sư tham gia phối hợp có hiệu quả của nhiều ngành có liên quan. Mặc dù có khó khăn về nhiều mặt, nhưng đã tập trung giải quyết cơ bản xong những vùng trọng điểm theo những yêu cầu chính mà Chỉ thị đã đặt ra.

               Công việc mặc dù chưa kết thúc toàn bộ, song những thành quả bước đầu thu được và những tác dụng của nó trong từng cơ sở đã khẳng định giá trị to lớn và sự cần thiết của việc thực hiện Chỉ thị 299-TTg. Những kết quả này đã được cố Phó Thủ tướng Vũ Đình Liệu đánh giá cao tại hội nghị tổng kết thực hiện Chỉ thị - tháng 7 năm 1986. Đó chính là sản phẩm đầu tay có giá trị của toàn ngành trong vị thế mới - vị thế của cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm giúp Chính phủ và UBND các cấp quản lý toàn bộ đất đai trên toàn lãnh thổ.

Cao Trọng Ruân - Nguyên Vụ trưởng Vụ Đăng ký thống kê - Tổng cục Địa chính