Kết quả 1 đến 4 của 4

Chủ đề: Những sửa đổi căn bản của luật đất đai năm 2013

  1. #1

    Những sửa đổi căn bản của luật đất đai năm 2013

    Cụ thể, Luật đất đai năm 2013 có những điểm đổi mới căn bản sau đây:
    1. Về những quy định chung
    - Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý;

    - Bổ sung làm rõ một số thuật ngữ để thống nhất cách hiểu và áp dụng trong quá trình thực hiện như quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại, cơ sở dữ liệu đất đai, tổ chức kinh tế, đất để xây dựng công trình ngầm, hộ gia đình sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp;
    - Quy định cụ thể người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất và đối với đất được giao để quản lý;
    - Bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm như cấm nhận chuyển chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân; sử dụng đất, thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
    2. Về quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai
    - Đã bổ sung thêm nhiều điều luật để quy để cụ thể hóa các quyền của Nhà nước;

    - Quy định cụ thể về nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất như quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người trực tiếp sản xuất nông nghiệp; trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân.
    3. Về điều tra cơ bản về đất đai
    Luật đã bổ sung các quy định về điều tra, đánh giá đất đai (bao gồm đánh giá về số lượng và chất lượng đất) nhằm khắc phục bất cập hiện nay đó là chỉ mới quan tâm về điều tra về số lượng đất, chưa quan tâm đến vấn đề chất lượng đất.

    4. Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
    - Bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như: quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; xử lý tốt mối quan hệ giữa quy hoach, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch của các ngành, lĩnh vực, của địa phương; khắc phục một cách cơ bản những bất cập trong mối quan hệ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành trong pháp luật về đất đai hiện hành

    - Quy định đầy đủ, rõ ràng căn cứ và nội dung lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất của từng cấp nhằm khắc phục được những khó khăn trong việc xác định căn cứ và nội dung cho từng cấp khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
    - Nội dung quy hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thực hiện phân bổ chỉ tiêu các loại đất theo từng cấp quy hoạch để vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý của từng cấp.
    - Quy định lồng nội dung quy hoạch sử dụng đất của các vùng kinh tế - xã hội vào quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, quy hoạch sử dụng đất chi tiết của cấp xã vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện nhằm tăng tính liên kết giữa các tỉnh, liên kết giữa các vùng, đồng thời rút ngắn thời gian hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
    - Quy định cụ thể nội dung kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện để làm cơ sở thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất gắn với nhu cầu sử dụng đất trong năm của các ngành, lĩnh vực, của các cấp, phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực, khắc phục lãng phí trong việc giao đất cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư;
    - Quy định phải lấy ý kiến nhân dân, trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến của nhân dân trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các cấp nhằm tăng cường hơn tính công khai, dân chủ;
    - Quy định cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch, đồng thời khắc phục được tình trạng công trình, dự án đã được đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng không triển khai thực hiện làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch.
    5. Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
    - Quy định thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả;

    - Thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều được áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất để để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; các trường còn lại được áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê;
    - Quy định cụ thể điều kiện được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư (như chủ đầu tư phải có năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác). Đặc biệt, Luật đã có bổ sung quy định về điều kiện được giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng, dự án đầu tư tại khu vực biên giới, ven biển và hải đảo.

  2. #2
    Trích dẫn Gửi bởi anhduc1403 Xem bài viết
    Cụ thể, Luật đất đai năm 2013 có những điểm đổi mới căn bản sau đây: 1. Về những quy định chung - Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; - Bổ sung làm rõ một số thuật ngữ để thống nhất cách hiểu và áp dụng trong quá trình thực hiện như quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại, cơ sở dữ liệu đất đai, tổ chức kinh tế, đất để xây dựng công trình ngầm, hộ gia đình sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; - Quy định cụ thể người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất và đối với đất được giao để quản lý; - Bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm như cấm nhận chuyển chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân; sử dụng đất, thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. 2. Về quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai - Đã bổ sung thêm nhiều điều luật để quy để cụ thể hóa các quyền của Nhà nước; - Quy định cụ thể về nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất như quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người trực tiếp sản xuất nông nghiệp; trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân. 3. Về điều tra cơ bản về đất đai Luật đã bổ sung các quy định về điều tra, đánh giá đất đai (bao gồm đánh giá về số lượng và chất lượng đất) nhằm khắc phục bất cập hiện nay đó là chỉ mới quan tâm về điều tra về số lượng đất, chưa quan tâm đến vấn đề chất lượng đất. 4. Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất - Bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như: quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; xử lý tốt mối quan hệ giữa quy hoach, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch của các ngành, lĩnh vực, của địa phương; khắc phục một cách cơ bản những bất cập trong mối quan hệ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành trong pháp luật về đất đai hiện hành - Quy định đầy đủ, rõ ràng căn cứ và nội dung lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất của từng cấp nhằm khắc phục được những khó khăn trong việc xác định căn cứ và nội dung cho từng cấp khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; - Nội dung quy hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thực hiện phân bổ chỉ tiêu các loại đất theo từng cấp quy hoạch để vừa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học, vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý của từng cấp. - Quy định lồng nội dung quy hoạch sử dụng đất của các vùng kinh tế - xã hội vào quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, quy hoạch sử dụng đất chi tiết của cấp xã vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện nhằm tăng tính liên kết giữa các tỉnh, liên kết giữa các vùng, đồng thời rút ngắn thời gian hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; - Quy định cụ thể nội dung kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện để làm cơ sở thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất gắn với nhu cầu sử dụng đất trong năm của các ngành, lĩnh vực, của các cấp, phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực, khắc phục lãng phí trong việc giao đất cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư; - Quy định phải lấy ý kiến nhân dân, trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến của nhân dân trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các cấp nhằm tăng cường hơn tính công khai, dân chủ; - Quy định cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch, đồng thời khắc phục được tình trạng công trình, dự án đã được đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng không triển khai thực hiện làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch. 5. Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất - Quy định thu hẹp các trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả; - Thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều được áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất để để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; các trường còn lại được áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê; - Quy định cụ thể điều kiện được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư (như chủ đầu tư phải có năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác). Đặc biệt, Luật đã có bổ sung quy định về điều kiện được giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng, dự án đầu tư tại khu vực biên giới, ven biển và hải đảo.
    [center][color=#747373]

  3. #3
    luật này bây giờ đã thay đổi chưa

  4. #4
    không biết luật bây giờ còn hiệu lực không nhỉ

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •