1. Quy định một cách cụ thể hơn quyền và trách nhiệm Nhà nước, những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất phù hợp với từng đối tượng, từng hình thức sử dụng đất và điều kiện để thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

2. Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai đối với khu vực nông nghiệp nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; đồng thời đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia và bảo vệ môi trường.

3. Quan tâm đến vấn đề chất lượng đất, đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai của từng cấp hành chính, đồng thời góp phần khai thác tốt hơn tài nguyên đất đai.
4. Tăng cường hơn việc vận hành các quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường, tiến tới xóa bỏ bao cấp trong quản lý, sử dụng đất đai.

5. Hoàn thiện hơn cơ chế nhằm phát huy nguồn lực từ đất đai thông qua quy định Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất.

6. Tăng cường hơn công khai, minh bạch và dân chủ trong quản lý, sử dụng đất.

7. Thiết lập sự bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai, thực hiện quyền và nghĩa vụ sử dụng đất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cho phù hợp với yêu cầu hội nhập và thu hút đầu tư.

8. Quan tâm hơn đến việc đảm bảo quyền sử dụng đất cho nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.

9. Luật hóa và quy định cụ thể trong Luật nhiều nội dung, đặc biệt là các nội dung có liên quan đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất như thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Các nội dung trên đã khẳng định rằng, với những gì được nêu tại Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 đã thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, một mặt khẳng định quyền của Nhà nước, mặt khác quan tâm sâu sát tới quyền, lợi ích của các tầng lớp nhân dân. Một ví dụ rất rõ là về thay đổi thời hạn giao đất nông nghiệp. Trước đây, người sử dụng đất nông nghiệp được giao đất có thời hạn 20 năm. Theo Điều 126, Mục 1. Chương X về chế độ sử dụng đất của Luật Đất đai 2013, thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất lên tới 50 năm. Đây là một khoảng thời gian rất dài. Với khoảng thời gian này, những hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất được làm chủ thực sự phần diện tích đất được cơ quan có thẩm quyền giao của mình. Họ và những thế hệ kế cận sẽ gắn bó với đất, an tâm đầu tư canh tác hiệu quả lâu dài.

Điều này cũng thể hiện tại quy định về việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Luật đất đai năm 2003 chỉ có 2 điều (Điều 42 và Điều 43) quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi. Nay Luật đất đai đã dành tới 2 mục với 21 điều (từ Điều 74 đến Điều 94) để quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Những quy định nêu ra khá cụ thể, chi tiết và sát thực với người được giao quyền sử dụng đất.

Từ quy định cụ thể nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như: người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi; việc bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai và đúng quy định của pháp luật; cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường phải chi trả kịp thời cho người có đất bị thu hồi (Điều 74). Hoặc về điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, Luật đã bổ sung thêm trường hợp "sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê" thì được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 75). Hay như quy định giá đất cũng vậy, giá đất để tính bồi thường được xác định theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất...

Tôi có thể nêu thêm một ví dụ nữa để khẳng định sự quan tâm sâu sát của Đảng, Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân, đó là tại Điểm b, c, khoản 1, Điều 110, Chương VIII về tài chính và giá đất của Luật Đất đai 2013 có bổ sung các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, gồm: sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng, hộ gia đình nghèo, hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội; đất ở cho người phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số...